Đa dạng hóa phương tiện chữa cháy, huy động nguồn lực xã hội từ cơ sở
Thảo luận tại Tổ 10 sáng 26/10 về các dự án luật bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, ĐBQH Trần Đức Thuận (Nghệ An) đề nghị đầu tư đa dạng phương tiện chữa cháy, đáp ứng yêu cầu tại các tòa nhà cao tầng, khu dân cư có ngõ nhỏ, đường hẹp; đồng thời hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực xã hội tham gia phòng cháy, chữa cháy ngay từ cơ sở.
Đầu tư phương tiện phù hợp, phát huy nguồn lực tại chỗ
Góp ý về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, ĐBQH Trần Đức Thuận cơ bản tán thành chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
.jpg)
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị tiếp tục làm rõ nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Công Thương trong quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; phạm vi giao quy định, trách nhiệm người đứng đầu, cơ chế kiểm tra, giám sát và chia sẻ thông tin. Phân cấp, phân quyền phải đi đôi với kiểm soát, không để xảy ra chồng chéo hoặc khoảng trống trách nhiệm trong quản lý nhà nước.
Đối với việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, đại biểu đánh giá cao định hướng mở rộng tiếp nhận hồ sơ trực tuyến, rút ngắn thời gian giải quyết. Tuy nhiên, đề xuất giảm thời hạn cấp một số giấy phép liên quan đến tiền chất thuốc nổ từ 5 xuống 3 ngày làm việc cần được đánh giá kỹ về tính khả thi.
Qua khảo sát thực tế, đại biểu nhận thấy hạ tầng công nghệ thông tin giữa các địa phương còn chênh lệch. Có nơi hệ thống vận hành thuận lợi, nhưng cũng có nơi thiết bị xuống cấp, mạng nghẽn, lượng giao dịch lớn khiến việc xử lý hồ sơ trực tuyến mất nhiều thời gian. Vì vậy, việc rút ngắn thời hạn phải gắn với điều kiện hạ tầng số và khả năng thực hiện. Trường hợp áp dụng thời hạn 3 ngày làm việc, đại biểu đề nghị Bộ Công an tăng cường rà soát, kiểm tra việc ứng dụng môi trường số tại các địa phương.
Liên quan đến chất lượng phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, dại biểu Trần Đức Thuận đồng tình với định hướng thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp và miễn một số thủ tục kiểm tra chất lượng nhằm giảm phiền hà. Tuy nhiên, việc miễn kiểm tra cần căn cứ mức độ rủi ro của từng loại phương tiện, có đầy đủ cơ sở pháp lý, kỹ thuật và không ảnh hưởng đến yêu cầu an toàn.
Từ thực tiễn giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy, đại biểu cho rằng, điều kiện dân cư và hạ tầng đô thị ở nước ta có nhiều đặc thù. Tại không ít khu dân cư, đường và ngõ nhỏ, sâu khiến xe chữa cháy cỡ lớn khó tiếp cận khi xảy ra hỏa hoạn. Trong khi đó, sự phát triển của các công trình cao tầng cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.
Đại biểu đề nghị Bộ Công an tham mưu Chính phủ nghiên cứu đầu tư đa dạng phương tiện phòng cháy, chữa cháy. Bên cạnh phương tiện hiện đại có khả năng chữa cháy tại các tòa nhà cao tầng, cần chú trọng phương tiện nhỏ gọn, linh hoạt, cơ động để tiếp cận các ngõ hẹp, khu dân cư mà xe chữa cháy lớn không thể đi vào.
.jpg)
Đặc biệt, đại biểu Trần Đức Thuận nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy. Qua khảo sát, đại biểu ghi nhận nhiều địa phương, tổ chức và người dân đã chủ động bỏ kinh phí mua sắm, trang bị phương tiện chữa cháy tại chỗ để kịp thời ứng cứu, hỗ trợ khi xảy ra sự cố trong khu dân cư.
Từ thực tiễn đó, đại biểu đề nghị, bên cạnh việc Nhà nước tiếp tục đầu tư, mua sắm, nâng cấp phương tiện, cần hoàn thiện cơ chế pháp lý để huy động ngày càng nhiều nguồn lực xã hội tham gia phòng cháy, chữa cháy, nhất là trong mua sắm, trang bị phương tiện tại cơ sở và những khu dân cư có nguy cơ cháy cao.
Làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm bảo vệ công trình quan trọng
Đối với dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, đại biểu Trần Đức Thuận cho biết, Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, khắc phục những bất cập trong thực tiễn và quán triệt tinh thần Nghị quyết số 66 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
Trong quá trình thẩm tra, Ủy ban đề nghị tiếp tục rà soát các luật liên quan, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tránh chồng chéo, nhất là giữa dự thảo Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia với Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.
Góp ý thêm về phạm vi điều chỉnh tại Điều 1, Điều 2 và Điều 6, đại biểu cho rằng, thực tế có nhiều công trình vừa phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, vừa có ý nghĩa đặc biệt đối với an ninh quốc gia, như hạ tầng thông tin, năng lượng và giao thông chiến lược. Với những công trình lưỡng dụng, việc phân định phạm vi quản lý, bảo vệ theo từng luật không phải lúc nào cũng rõ ràng.
Đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc xác định chế độ pháp lý áp dụng đối với công trình thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều luật; làm rõ cơ quan chủ trì, trách nhiệm của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, tránh phát sinh vướng mắc trong tổ chức thực hiện.
.jpg)
Về tiêu chí xác định, phân loại công trình tại Điều 6 và Điều 7, đại biểu nhận xét, dự thảo phân loại công trình an ninh, khu an ninh thành các loại A, B, C; công trình quan trọng khác thành loại 1, 2, 3, song một số tiêu chí còn mang tính định tính, có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau.
Đại biểu đề nghị cụ thể hóa tiêu chí theo mức độ ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, tính chất chiến lược và hậu quả khi công trình bị xâm phạm; đồng thời nghiên cứu bổ sung nguy cơ tấn công mạng, tấn công bằng phương tiện bay không người lái đối với hạ tầng số, trung tâm dữ liệu. Những tiêu chí cơ bản liên quan đến quyền của tổ chức, cá nhân cần được nghiên cứu quy định phù hợp trong Luật hoặc giao Chính phủ quy định cụ thể.
Đối với thẩm quyền đưa công trình vào, ra khỏi danh mục, đại biểu Trần Đức Thuận cơ bản tán thành việc phân cấp cho Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an và Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Tuy nhiên, việc đưa công trình vào danh mục bảo vệ có thể làm phát sinh hạn chế đối với quyền sử dụng đất, hoạt động xây dựng và các giao dịch liên quan.
Vì vậy, đại biểu đề nghị làm rõ trách nhiệm thẩm định, quyết định, quản lý; cơ chế tham vấn Bộ Quốc phòng đối với công trình liên quan đến quốc phòng; đồng thời rà soát định kỳ danh mục, công khai thông tin phù hợp với quy định về bảo vệ bí mật nhà nước.
Liên quan đến lực lượng bảo vệ, đại biểu đề nghị quy định rõ cơ chế phối hợp giữa Công an và Quân đội trong những tình huống đặc biệt. Đơn cử, đối với công trình an ninh năng lượng quốc gia, trong điều kiện bình thường, lực lượng Công an thực hiện nhiệm vụ bảo vệ theo phân công; nhưng khi xảy ra xung đột hoặc tình huống đặc biệt, công trình có thể trở thành mục tiêu bị tấn công, đòi hỏi sự phối hợp của lực lượng Quân đội.
Về nguồn lực, đại biểu đề nghị phân định rõ trách nhiệm bảo đảm kinh phí giữa ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và chủ sở hữu, đơn vị quản lý công trình; xác định trách nhiệm đầu tư, duy trì, nâng cấp hệ thống bảo vệ.
Đặc biệt, cần có cơ chế điều phối, hỗ trợ từ ngân sách trung ương đối với những địa phương còn khó khăn. Theo đại biểu, điều kiện ngân sách giữa các địa phương không đồng đều, trong khi nhu cầu chi cho quốc phòng, an ninh và bảo vệ công trình có sự khác biệt. Vì vậy, cần tính đến điều kiện thực tế, tránh áp dụng cùng một khuôn mẫu về trách nhiệm chi, gây khó khăn trong bố trí nguồn lực.