Tháo gỡ các vướng mắc ảnh hưởng đến hoạt động vận tải hàng không quốc tế
Thảo luận tại Tổ 1 về Dự án Luật An ninh dữ liệu, cơ bản đồng tình với dự thảo Luật, ĐBQH Lê Hồng Hà (Hà Nội) cũng đề nghị hoàn thiện các quy định về chuyển dữ liệu xuyên biên giới, bảo đảm yêu cầu an ninh dữ liệu, tháo gỡ vướng mắc ảnh hưởng đến hoạt động vận tải hàng không quốc tế.
Bảo đảm hoạt động vận tải hàng không quốc tế thông suốt
Phát biểu thảo luận, ĐBQH Lê Hồng Hà cho biết, tại Vietnam Airlines, khối lượng lớn dữ liệu về hành khách, người lao động, khai thác và kỹ thuật tàu bay được xử lý trên hệ thống của các nhà cung cấp quốc tế; nhiều loại dữ liệu được chuyển ra nước ngoài hằng ngày thông qua các hệ thống đặt giữ chỗ, phục vụ mặt đất và các hệ thống liên quan đến hoạt động xuất nhập cảnh.

Theo Quyết định số 20 của Thủ tướng Chính phủ và các quy định tại khoản 3 Điều 8 của dự thảo Luật An ninh dữ liệu, dữ liệu hành khách của Vietnam Airlines tối thiểu thuộc cấp độ 3, có thể tiệm cận cấp độ 4. Do đó, những dữ liệu này có thể chịu sự điều chỉnh của phần lớn các nghĩa vụ trong dự thảo Luật, từ đánh giá tác động, kiểm toán, quản lý chuỗi cung ứng, chuyển dữ liệu xuyên biên giới đến báo cáo sự cố. Trường hợp dữ liệu thuộc cấp độ 4 còn phải thực hiện các yêu cầu thẩm định và biện pháp kỹ thuật khẩn cấp theo quy định của dự thảo Luật.
Từ thực tiễn đó, đại biểu tập trung góp ý ba vấn đề lớn có tác động trực tiếp đến hoạt động vận tải hàng không quốc tế. Trước hết, về cung cấp thông tin hành khách cho cơ quan nước ngoài theo Điều 20 và các quy định liên quan tại Điều 6 của dự thảo Luật.
Theo đại biểu, khoản 1 Điều 20 quy định việc cung cấp dữ liệu từ cấp độ 3 trở lên theo yêu cầu của cơ quan thực thi pháp luật nước ngoài phải thông qua cơ chế tương trợ tư pháp hoặc điều ước quốc tế. Khoản 7 Điều 6 cũng nghiêm cấm việc cung cấp dữ liệu khi không có căn cứ này.
Tuy nhiên, hoạt động hàng không quốc tế phải tuân thủ các yêu cầu về cung cấp thông tin hành khách. Các nghị quyết quốc tế, Phụ lục 9 của Công ước Chicago và những quy định liên quan yêu cầu hãng hàng không truyền trước thông tin hành khách, dữ liệu đặt chỗ cho cơ quan biên phòng, hải quan của quốc gia đến đối với các chuyến bay. Đồng thời, khoản 4 Điều 98 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam cũng quy định nghĩa vụ cung cấp trước thông tin về chuyến bay, hành khách và tổ bay cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.
Trong khi đó, cơ quan biên phòng, hải quan nước ngoài có thể thuộc khái niệm cơ quan thực thi pháp luật nước ngoài. Vì vậy, việc chuyển dữ liệu theo yêu cầu bắt buộc của quốc gia đến có nguy cơ bị xem là hành vi bị cấm theo dự thảo Luật. Nếu vướng mắc này không được giải quyết, các hãng hàng không Việt Nam có thể gặp khó khăn trong việc triển khai các chuyến bay quốc tế, trong khi các hãng hàng không nước ngoài vẫn thực hiện được hoạt động tương tự.
Để tháo gỡ vướng mắc, đại biểu kiến nghị bổ sung quy định tại Điều 20, đồng thời sửa đổi khoản 7 Điều 6 theo hướng xác định rõ việc cung cấp thông tin hành khách, tổ bay và hàng hóa theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế, điều ước quốc tế, hiệp định vận chuyển hàng không hoặc theo yêu cầu bắt buộc của quốc gia nơi tàu bay đi, đến, quá cảnh để đáp ứng điều kiện khai thác quốc tế không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 20. Việc chuyển dữ liệu trong trường hợp này được thực hiện theo Điều 19 của dự thảo Luật An ninh dữ liệu và pháp luật về hàng không dân dụng.
Tháo gỡ vướng mắc trong chuyển dữ liệu xuyên biên giới
Liên quan đến chuyển dữ liệu xuyên biên giới để thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng không theo Điều 19 của dự thảo Luật An ninh dữ liệu. ĐBQH Lê Hồng Hà nhấn mạnh, hợp đồng vận chuyển hàng không quốc tế không thể thực hiện nếu không chuyển dữ liệu hành khách đến các hệ thống đặt giữ chỗ, hãng hàng không đối tác, đại lý và đơn vị phục vụ tại các cảng hàng không nước ngoài.
Tuy nhiên, khoản 7 Điều 19 chưa làm rõ điều kiện áp dụng cơ chế trong tình huống khẩn cấp đối với trường hợp chuyển dữ liệu để thực hiện hợp đồng, cũng như chưa xác định cụ thể những thủ tục hành chính nào được miễn trừ. Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 19 chưa quy định thời hạn thẩm định, chấp thuận việc chuyển dữ liệu cấp độ 4 và cơ chế xử lý khi quá thời hạn. Khoản 10 Điều 19 yêu cầu người đứng đầu cho phép việc mang dữ liệu hoặc truy cập dữ liệu từ nước ngoài, trong khi hoạt động của tổ bay và đại diện các hãng hàng không ở nước ngoài đòi hỏi việc truy cập, xử lý dữ liệu diễn ra thường xuyên để phục vụ khai thác.

Từ những bất cập này, đại biểu đề xuất tách khoản 7 Điều 19 thành hai trường hợp độc lập. Trong đó, việc chuyển dữ liệu nhằm giao kết, thực hiện hợp đồng mà chủ thể dữ liệu là một bên cần được xem xét theo hướng miễn thủ tục chấp thuận, nhưng vẫn phải lưu hồ sơ để phục vụ kiểm tra.
Đồng thời, cần quy định thời hạn tối đa đối với việc chấp thuận chuyển dữ liệu tại khoản 4 Điều 19 và cơ chế xử lý khi quá thời hạn. Đối với khoản 10, đại biểu đề nghị cho phép người đứng đầu phê duyệt theo quy chế nội bộ đối với từng nhóm người dùng, thiết bị, qua đó đáp ứng yêu cầu khai thác thường xuyên của hoạt động hàng không quốc tế.
Các biện pháp bảo đảm an ninh đối với dữ liệu được thực hiện theo quy định của Luật An ninh dữ liệu
Đáng chú ý, ĐBQH Lê Hồng Hà đề nghị bảo đảm tính thống nhất giữa dự thảo Luật An ninh dữ liệu với Luật Hàng không dân dụng và các luật chuyên ngành khác. Theo khoản 1 Điều 3 dự thảo Luật, Luật An ninh dữ liệu được ưu tiên áp dụng khi luật khác có quy định khác. Khoản 2 Điều 3 mới phân định mối quan hệ với một số lĩnh vực như bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước, trí tuệ nhân tạo và giao dịch điện tử. Trong khi đó, Điều 27 mới quy định sửa đổi Luật An ninh mạng và Luật Dữ liệu.
Đại biểu cho rằng nhiều luật chuyên ngành khác cũng quy định cụ thể nghĩa vụ thu thập, cung cấp, chia sẻ và lưu trữ dữ liệu, như pháp luật về xuất nhập cảnh, hải quan, căn cước, kế toán và lưu trữ. Riêng trong lĩnh vực hàng không, khoản 2 Điều 3 Luật Hàng không dân dụng đã có quy định về việc áp dụng pháp luật. Vì vậy, cần xác định rõ mối quan hệ giữa các quy định để tránh chồng chéo hoặc phát sinh cách hiểu khác nhau trong quá trình thực hiện.
Theo đại biểu, đối với dữ liệu an toàn hàng không, Điều 82 Luật Hàng không dân dụng quy định thông tin, dữ liệu an toàn chỉ được sử dụng cho mục đích an toàn và chỉ được chuyển cho cơ quan tiến hành tố tụng theo thủ tục tố tụng. Các Điều 83 và 87 cũng quy định việc chia sẻ thông tin an toàn, hỗ trợ dữ liệu về tai nạn với các cơ quan điều tra và quốc gia liên quan. Các quy định về quyền yêu cầu cung cấp thông tin, biện pháp khẩn cấp và thủ tục chuyển dữ liệu ra nước ngoài tại dự thảo Luật An ninh dữ liệu có thể ảnh hưởng đến cơ chế bảo đảm an toàn hàng không đã được quy định tại Luật Hàng không dân dụng.
Đối với dữ liệu đo xa và định vị tàu bay, quy định tại khoản 8 Điều 13 của dự thảo Luật về việc áp dụng nghĩa vụ đối với dữ liệu này không phụ thuộc cấp độ rủi ro có thể bao trùm toàn bộ dữ liệu tàu bay được truyền thường xuyên cho nhà sản xuất máy bay và các tổ chức bảo dưỡng ở nước ngoài nhằm duy trì điều kiện khai thác của tàu bay.
Từ đó, đại biểu kiến nghị bổ sung vào Điều 3 nguyên tắc chung về mối quan hệ giữa Luật An ninh dữ liệu và pháp luật chuyên ngành. Theo đó, việc thu thập, cung cấp, chia sẻ dữ liệu theo nghĩa vụ được quy định tại luật chuyên ngành hoặc theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cần được thực hiện theo quy định của luật chuyên ngành và điều ước quốc tế tương ứng; các biện pháp bảo đảm an ninh đối với dữ liệu được thực hiện theo quy định của Luật An ninh dữ liệu.