Thời sự Quốc hội

Quy định rõ tiêu chí, thẩm quyền và trách nhiệm bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Bài và ảnh: Trọng Hiếu • 26/10/2026 15:50

Sáng 26/10, thảo luận tại Tổ 9 (Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình và TP. Huế) về dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, các đại biểu đề nghị làm rõ tiêu chí phân loại công trình, phân định cụ thể thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan, đồng thời quy định chặt chẽ điều kiện áp dụng các biện pháp bảo vệ đặc biệt. Các quy định cần bảo đảm yêu cầu an ninh, an toàn công trình, chủ động ứng phó với nguy cơ mới, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, ngày 26/10, Quốc hội thảo luận tại Tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.

Phân định rõ biện pháp bảo vệ theo từng loại công trình quan trọng

Cho ý kiến về dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, ĐBQH Nguyễn Tiến Hùng (TP. Huế) cho rằng, việc áp dụng các biện pháp bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia có thể tác động trực tiếp đến hoạt động đi lại, cư trú, canh tác, kinh doanh và sử dụng đất của người dân sinh sống xung quanh các công trình này. Vì vậy, các hộ gia đình sinh sống gần khu vực bảo vệ cần được biết rõ khu vực nào được phép đi lại, khu vực nào phải xin phép để chủ động tuân thủ, phòng ngừa vi phạm. Đồng thời, khi không đồng ý với các phương án hỗ trợ, bồi thường thiệt hại, người dân cần có cơ sở pháp lý rõ ràng để thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo.

2aobor89oeg01x7nkozkctk5pnsmlwzdnbqbsfyu.jpg
ĐBQH Nguyễn Tiến Hùng (TP. Huế) phát biểu

Để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân mà không ảnh hưởng đến yêu cầu bảo mật, đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 36 một quy định mang tính nguyên tắc, theo đó, cá nhân, tổ chức có quyền được cung cấp thông tin, khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi, quyết định liên quan đến bảo vệ công trình theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước và các quy định khác của pháp luật.

Với cơ chế phối hợp và phân định thẩm quyền quản lý, đại biểu Nguyễn Tiến Hùng đề nghị rà soát, sắp xếp, thống nhất các quy định về trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan công an, cơ quan quản lý công trình và chính quyền địa phương; trong đó, phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp tỉnh và UBND cấp xã.

Đại biểu cho rằng, cần xác định rõ cơ quan đầu mối chủ trì, cấp chịu trách nhiệm cung cấp thông tin, hướng dẫn người dân và cấp tiếp nhận, xử lý vi phạm. Nếu chỉ quy định chung chung về trách nhiệm phối hợp khi xảy ra sự cố hoặc vướng mắc thì dễ dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm.

2aobor89oebvtxupetqtj0oy7oapgukflthhqnto.jpg
Toàn cảnh thảo luận tại Tổ 9

Đánh giá đầy đủ nguy cơ tác động dây chuyền

Về phân định các cấp độ và biện pháp bảo vệ, đại biểu Nguyễn Tiến Hùng cho biết, Điều 7 dự thảo Luật đã phân loại công trình quan trọng thành loại 1, loại 2 và loại 3 dựa trên tính chất, yêu cầu bảo vệ. Tuy nhiên, khi đối chiếu với Điều 28 về các biện pháp áp dụng đối với khu vực bảo vệ, dự thảo lại quy định các biện pháp bảo vệ như nhau đối với tất cả các loại công trình.

Theo đại biểu, việc áp dụng đồng loạt các biện pháp bảo vệ là chưa hợp lý, có thể dẫn đến lãng phí nguồn lực hoặc không đáp ứng yêu cầu về an ninh. Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, quy định rõ các biện pháp bảo vệ tương ứng với từng loại công trình ngay trong Luật.

Cũng quan tâm đến các quy định về phân loại công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, ĐBQH Nguyễn Thị Sửu (TP. Huế) đề nghị quy định rõ hơn khái niệm và tiêu chí phân loại công trình.

2aobor89of5vz3vxt4jbbhkkn9rdjgg0dpml6mtw.jpg
ĐBQH Nguyễn Thị Sửu (TP. Huế) phát biểu

Theo đó, tại khoản 1 Điều 2, Điều 6 và Điều 7, dự thảo đã nêu khái niệm và các nhóm phân loại công trình. Tuy nhiên, trong Báo cáo thẩm tra và Kết luận số 241/KL-UBTVQH16 đã lưu ý, tiêu chí phân loại cần thống nhất hơn, nhất là đối với công trình loại I trong các lĩnh vực năng lượng, chuỗi cung ứng và hạ tầng số. Nếu chỉ xem xét riêng vị trí, quy mô hoặc chức năng của từng công trình mà chưa đánh giá mức độ phụ thuộc của các hệ thống khác, nguy cơ gián đoạn dây chuyền có thể chưa được phản ánh đầy đủ.

Đại biểu nêu thực tiễn các đầu mối cảng biển, logistics và năng lượng cho thấy một công trình có thể không chỉ phục vụ một địa phương, mà còn gắn với hoạt động sản xuất, vận tải và cung ứng thiết yếu của nhiều tỉnh, thành phố. Chẳng hạn, khi đánh giá một đầu mối cảng biển như khu vực Lạch Huyện, thành phố Hải Phòng hay cụm cảng Cái Mép - Thị Vải, cần xem xét cả vai trò trong mạng lưới vận tải, khả năng thay thế khi gián đoạn và tác động đến các khâu tiếp theo; không nên chỉ căn cứ vào diện tích hoặc công suất riêng lẻ.

Do vậy, đại biểu đề nghị sửa khoản 1 Điều 2 dự thảo Luật theo hướng xác định công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia trên cơ sở vai trò, vị trí, chức năng, mức độ ảnh hưởng đối với ổn định quốc gia, đồng thời tính đến mức độ liên kết chuỗi cung ứng, hiệu ứng dây chuyền, khả năng thay thế và thời gian khôi phục khi xảy ra sự cố.

2aobor89ofj2tu0zaqfp8hhb3sepvk4hyxnm7ol2.jpg
Các đại biểu dự thảo luận tại Tổ 9

Tại Điều 6 và Điều 7, cần quy định các nhóm tiêu chí thống nhất, có thể kiểm chứng; đối với công trình loại I, phải có tiêu chí định lượng phù hợp với từng lĩnh vực. Chính phủ có thể quy định ngưỡng kỹ thuật cụ thể, nhưng Luật cần xác lập rõ những nguyên tắc và căn cứ bắt buộc, bảo đảm minh bạch, thống nhất và có thể giám sát. Cũng cần làm rõ ranh giới với công trình quốc phòng, khu quân sự và các luật chuyên ngành để tránh chồng chéo về đối tượng, thẩm quyền và biện pháp bảo vệ.

Làm rõ điều kiện, thẩm quyền và thời hạn áp dụng biện pháp bảo vệ đặc biệt

Góp ý vào khoản 5 Điều 10 về biện pháp đặc biệt cấp thiết và Điều 20 về chế độ bảo vệ tại khu vực cấm, khu vực bảo vệ, ĐBQH Nguyễn Thị Sửu nhấn mạnh đây là những quy định trực tiếp liên quan đến quyền tự do đi lại, hoạt động nghề nghiệp, sinh hoạt và các quyền, lợi ích hợp pháp khác. Kết luận số 241/KL-UBTVQH16 đề nghị quy định ngay trong Luật điều kiện, phạm vi và thời hạn áp dụng; Báo cáo thẩm tra cũng yêu cầu rà soát để bảo đảm tính hợp hiến, thống nhất với pháp luật về tình trạng khẩn cấp. Đây là yêu cầu cần được xử lý ở cấp luật, không nên để toàn bộ nội dung có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của người dân phụ thuộc vào văn bản hướng dẫn.

2aobor89oftpv8rzbuuuejmpipjyn1mlbamb54ro-f4c1bcbb8a8824d6b67eed830b86ed77.jpg
Các đại biểu dự thảo luận tại Tổ 9

Vì vậy, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị khoản 5 Điều 10 phải xác định rõ căn cứ kích hoạt là nguy cơ trực tiếp, hiện hữu đối với an toàn của công trình hoặc an ninh quốc gia; đồng thời quy định cụ thể người có thẩm quyền quyết định, phạm vi áp dụng, thời hạn, trách nhiệm thông báo, kiểm tra và chấm dứt biện pháp khi căn cứ không còn. Quyết định áp dụng cần nêu rõ lý do, biện pháp được sử dụng và cơ chế giám sát; việc kéo dài phải dựa trên đánh giá lại nguy cơ và được thực hiện theo trình tự luật định. Luật cũng cần phân biệt trường hợp xử lý nguy cơ đối với một công trình cụ thể với trường hợp phải áp dụng cơ chế theo pháp luật về tình trạng khẩn cấp, tránh hai quy trình song song hoặc khoảng trống trách nhiệm.

Cùng quan tâm về biện pháp bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia quy định tại Điều 10, ĐBQH Trần Thị Hồng Thanh (Ninh Bình) cho biết, khoản 5 Điều 10 dự thảo Luật quy định, trong trường hợp đặc biệt cấp thiết để bảo đảm tuyệt đối an toàn cho công trình, Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ mà pháp luật chưa quy định và báo cáo cơ quan có thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thời gian gần nhất.

2aobor89oezgrnrvtm97gog8jpl66f7jtj4xvcsk.jpg
ĐBQH Trần Thị Hồng Thanh (Ninh Bình) phát biểu

Theo đại biểu, quy định này cho phép Thủ tướng Chính phủ áp dụng các biện pháp chưa được pháp luật quy định, trong đó có thể có những biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân. Trong khi đó, các khái niệm “trường hợp đặc biệt cấp thiết”, “bảo đảm tuyệt đối an toàn cho công trình” còn mang tính định tính. Do vậy, để bảo đảm tính chặt chẽ, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, quy định rõ các trường hợp này nhằm bảo đảm việc triển khai thực hiện thống nhất, phù hợp.

Bổ sung hành vi sử dụng phần mềm trái phép vào các hành vi bị cấm

Đối với Điều 20 dự thảo Luật, ĐBQH Nguyễn Thị Sửu (TP. Huế) đề nghị xác định rõ hành vi bị hạn chế, phạm vi không gian, đối tượng áp dụng và các ngoại lệ cần thiết, đặc biệt đối với lực lượng cứu nạn, y tế, phòng cháy, chữa cháy và người thực hiện dịch vụ thiết yếu. Ở địa bàn cảng biển hoặc công trình năng lượng nằm gần khu dân cư, nếu ranh giới và thủ tục ra vào không rõ, vừa khó tổ chức bảo vệ, vừa dễ ảnh hưởng quá mức đến sinh kế và việc đi lại hợp pháp của người dân. Ngược lại, phạm vi và điều kiện được quy định rõ sẽ giúp lực lượng làm nhiệm vụ có căn cứ thực hiện, người dân biết nghĩa vụ của mình và cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm giải trình.

“Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia phải đi đôi với chất lượng của quy phạm pháp luật. Tiêu chí xác định càng rõ thì phân loại càng thống nhất; thẩm quyền, phạm vi và thời hạn càng cụ thể thì biện pháp bảo vệ càng khả thi, đồng thời hạn chế nguy cơ áp dụng tùy nghi”, đại biểu Nguyễn Thị Sửu khẳng định.

2aobor89ofuofyuiaisinofchofsttmuxfi4i4z6.jpg
Các đại biểu dự thảo luận tại Tổ 9

Cho ý kiến về điểm d khoản 1 Điều 20 về việc không sử dụng thiết bị bay tự động hoặc có điều khiển để thu thập thông tin, dữ liệu, đại biểu Trần Thị Hồng Thanh cho rằng, dự thảo Luật mới chỉ đề cập đến thiết bị bay tự động, trong khi trên thực tế còn nhiều loại thiết bị khác có thể được sử dụng để thu thập thông tin, dữ liệu. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung quy định cấm sử dụng các thiết bị di chuyển tự động hoặc có điều khiển trên mặt đất, trên mặt nước, trong lòng nước nhằm bảo đảm bao quát các thiết bị có nguy cơ thu thập thông tin, dữ liệu trái phép.

Đồng thời, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung hành vi sử dụng phần mềm trái phép vào các hành vi bị cấm, nhằm nhận diện đầy đủ những thách thức an ninh trong bối cảnh công nghệ thông tin và các hệ thống điều khiển, giám sát tự động ngày càng được ứng dụng rộng rãi.

Theo đại biểu, nguy cơ xâm nhập, can thiệp trái phép vào hệ thống kỹ thuật phục vụ quản lý, vận hành và bảo vệ công trình ngày càng cần được quan tâm. Việc bổ sung các quy định này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, xử lý vi phạm, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để các cơ quan nhà nước áp dụng thống nhất đối với các loại công trình.

Chủ động ứng phó, bảo vệ công trình trọng yếu, ngăn chặn hậu quả lan rộng

Góp ý hoàn thiện dự thảo Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, ĐBQH Trần Thế Anh (Ninh Bình) đề nghị rà soát Điều 7 và các quy định về biện pháp bảo vệ công trình theo hướng gắn việc phân loại công trình với mức độ nguy cơ, khả năng gây tác động dây chuyền và yêu cầu duy trì, khôi phục hoạt động thiết yếu của công trình.

2aobor89oenb8bvagr3jioz5sdrnfi1wcoztyxrm.jpg
ĐBQH Trần Thế Anh (Ninh Bình) phát biểu

Theo đại biểu, bảo vệ công trình quan trọng không chỉ là ngăn chặn xâm nhập, phá hoại trực tiếp mà còn phải bảo đảm chức năng thiết yếu, khả năng vận hành liên tục và khả năng phục hồi trước các nguy cơ an ninh mới, nhất là tấn công mạng, xâm nhập hệ thống và điều khiển từ xa.

Đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu bổ sung hoặc làm rõ quy định về trách nhiệm kích hoạt phương án ứng phó. Theo đó, khi xảy ra tình huống khẩn cấp, đột xuất hoặc xuất hiện nguy cơ nghiêm trọng đe dọa an ninh, an toàn công trình, cơ quan, tổ chức, lực lượng có trách nhiệm bảo vệ phải kích hoạt ngay phương án ứng phó theo thẩm quyền, kịp thời phối hợp xử lý, ngăn chặn hậu quả lan rộng, bảo đảm duy trì hoặc khôi phục hoạt động thiết yếu của công trình.

Đại biểu nhấn mạnh, quy định này nhằm làm rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện các phương án đã được chuẩn bị, không tạo thêm thủ tục hành chính hay thẩm quyền mới; đồng thời đề nghị thường xuyên cập nhật phương án bảo vệ phù hợp với sự thay đổi của công nghệ và tăng cường phối hợp giữa lực lượng bảo vệ công trình, cơ quan chức năng với đơn vị quản lý các hệ thống hạ tầng liên quan, nhất là khi có nguy cơ gây ảnh hưởng dây chuyền.

Bài và ảnh: Trọng Hiếu