Địa phương

Nguồn lực tài chính cho bảo vệ rừng và khắc phục hậu quả thiên tai

V. Anh • 26/10/2026 07:31

Quỹ Nông nghiệp và Môi trường TP. Đồng Nai đang quản lý nhiều nguồn kinh phí phục vụ bảo vệ, phát triển rừng và phòng, chống thiên tai. Tính đến giữa tháng 10 năm 2026, Quỹ thu 96,3 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng; tiếp nhận 5,323 tỷ đồng tiền trồng rừng thay thế. Với công tác phòng, chống thiên tai, Quỹ đã chi 7 tỷ đồng hỗ trợ 757 hộ dân tại 13 địa phương và tạm ứng hơn 70 tỷ đồng cho 69 công trình thuộc 32 địa phương, đơn vị.

Chi trả dịch vụ môi trường rừng, bảo đảm nguồn kinh phí bảo vệ rừng

Sau khi hợp nhất, TP. Đồng Nai có diện tích rừng hơn 370.000ha. Công tác quản lý, bảo vệ rừng cần nguồn kinh phí để duy trì hoạt động của các chủ rừng, hộ gia đình và cộng đồng dân cư. Trong đó, tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) được thu từ các đơn vị sử dụng dịch vụ và chi trả cho các đối tượng cung ứng theo quy định.

Theo báo cáo Quỹ Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đồng Nai, tổng số tiền DVMTR thu được từ đầu năm đạt 96,3 tỷ đồng trên tổng số 86 tỷ đồng phải thu, đạt 112% kế hoạch năm 2026. Đối với tiền DVMTR thu được năm 2025, Quỹ đã chi trả cho chủ rừng đạt 99,92% , tương ứng với 83,9 tỷ đồng. Trong kỳ, Quỹ cũng ký thêm 40 hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR.

Trang 3 - Sau cơn mưa lớn, cống thoát nước ở xã Phước Sơn bị sạt lở. quỹ NNMT đang phối hợp cũng các cơ quan xem xét, hỗ trợ sửa chữa
Quỹ Nông nghiệp và Môi trường TP. Đồng Nai phối hợp cùng các cơ quan xem xét, hỗ trợ sửa chữa cống thoát nước ở xã Phước Sơn bị sạt lở. Ảnh: Kiều Ngân

Bên cạnh công tác thu, chi, Quỹ phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng Đề án chi trả DVMTR thành phố Đồng Nai. Quỹ đã ký hợp đồng với Trung tâm Tài nguyên và Môi trường Lâm nghiệp để triển khai đề án, đồng thời rà soát, thương thảo và ký kết các hợp đồng ủy thác chi trả.

Việc thu tiền DVMTR gắn với nghĩa vụ của các đơn vị sử dụng dịch vụ; việc chi trả căn cứ diện tích rừng đủ điều kiện và quy định hiện hành. Nguồn kinh phí được chuyển đến các chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư tham gia quản lý, bảo vệ rừng.

Ngoài nguồn tiền DVMTR, Quỹ còn tiếp nhận và quản lý tiền trồng rừng thay thế. Đây là nguồn kinh phí riêng, được sử dụng theo các phương án và quyết định có thẩm quyền, không gộp với tiền DVMTR.

Trong 9 tháng năm 2026, Quỹ tiếp nhận 5,323 tỷ đồng tiền trồng rừng thay thế và giải ngân 11,273 tỷ đồng. Lũy kế từ trước đến nay, tổng số tiền tiếp nhận đạt 333,251 tỷ đồng. Quỹ đã sử dụng 106,767 tỷ đồng, trong đó giải ngân 34,792 tỷ đồng và chuyển 71,974 tỷ đồng về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam để trồng rừng thay thế tại Lai Châu.

Báo cáo cũng ghi nhận 55,434 tỷ đồng còn phải giải ngân và 69,205 tỷ đồng tiền tồn chưa có quyết định phê duyệt. Ngoài ra, có 101,842 tỷ đồng thuộc các khoản đang chờ xử lý hoặc dự kiến sử dụng theo những phương án khác nhau, gồm chuyển về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, chờ hướng dẫn của cơ quan chuyên môn, hoàn trả khoản nộp vượt đơn giá và thực hiện các công trình lâm sinh.

Việc tiếp nhận và sử dụng tiền trồng rừng thay thế được thực hiện theo từng hồ sơ, phương án và quyết định liên quan. Đối với các khoản còn tồn, Quỹ tiếp tục thực hiện thủ tục chuyển tiền, giải ngân cho các chủ đầu tư trồng rừng và triển khai kế hoạch công trình lâm sinh trên địa bàn thành phố.

Hỗ trợ người dân khắc phục thiệt hại do thiên tai

Trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai, Quỹ thực hiện thu, chi kinh phí, hỗ trợ người dân bị thiệt hại và tạm ứng kinh phí cho các công trình phòng, chống thiên tai theo quy định.

Tính tới tháng 10/2026 ghi nhận tổng số tiền thu Quỹ Phòng, chống thiên tai đạt 65,6 tỷ đồng; tổng chi 78,9 tỷ đồng. Trong đó, Quỹ đã chi 7 tỷ đồng hỗ trợ 757 hộ dân tại 13 địa phương bị ảnh hưởng bởi thiên tai. Kinh phí tạm ứng cho 69 công trình thuộc 32 địa phương, đơn vị là hơn 70 tỷ đồng.

Bên cạnh hỗ trợ trực tiếp các hộ dân, việc khắc phục hậu quả thiên tai còn đặt ra yêu cầu sửa chữa các công trình hạ tầng bị hư hỏng, nhất là những vị trí có nguy cơ mất an toàn.

Theo Báo cáo số 649/BC-UBND ngày 20/9/2026, UBND xã Phước Sơn ghi nhận tình trạng sạt lở, xói lở nghiêm trọng tại khu vực cống thoát nước suối Đắk To, thôn Phước Thịnh. Dòng chảy cuốn trôi đất, đá và vật liệu đắp, tạo khoảng rỗng dưới và hai bên kết cấu mặt đường, đe dọa nền đường và công trình thoát nước. Địa phương đề nghị cơ quan chuyên môn kiểm tra hiện trạng, đánh giá kỹ thuật và tham mưu phương án khắc phục khẩn cấp.

Trong quá trình triển khai các công trình phòng, chống thiên tai, một số địa phương còn lúng túng khi xác định chủ đầu tư, thẩm quyền thẩm định và phê duyệt hồ sơ. Những vướng mắc này ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện công trình. Quỹ đã có văn bản đề nghị hướng dẫn, đồng thời phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường để tháo gỡ khó khăn.

Công tác thu Quỹ cũng gặp trở ngại do nhiều doanh nghiệp thay đổi địa chỉ hoặc tình trạng hoạt động chưa được cập nhật. Sau khi tổ chức chính quyền địa phương thay đổi, các xã, phường tiếp nhận nhiệm vụ thu từ các đơn vị hành chính cấp huyện trước đây, cần thời gian rà soát và triển khai.

Để phục vụ quản lý, Quỹ đang xây dựng phần mềm quản lý thu, chi Quỹ Phòng, chống thiên tai. Quỹ đã phát hành hơn 4.000 tờ rơi tuyên truyền về quyền và nghĩa vụ đóng góp, đồng thời triển khai các thủ tục thuê tư vấn thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật và chi phí phần mềm.

Các nhiệm vụ thu, chi, hỗ trợ người dân và tạm ứng kinh phí công trình được triển khai song song với việc hoàn thiện quy trình quản lý. Với lĩnh vực bảo vệ rừng, trọng tâm là thu tiền DVMTR, chi trả cho các bên cung ứng và xử lý nguồn tiền trồng rừng thay thế. Với lĩnh vực phòng, chống thiên tai, Quỹ tiếp tục thực hiện hỗ trợ hộ dân, bố trí kinh phí cho công trình và tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai tại địa phương.

Qua các hoạt động của Quỹ Nông nghiệp và Môi trường TP. Đồng Nai thời gian vừa qua, có thể thấy Quỹ đang góp phần bảo đảm nguồn lực cho công tác bảo vệ rừng và khắc phục hậu quả thiên tai. Việc quản lý, phân bổ kinh phí gắn với từng nhiệm vụ, cùng ứng dụng công nghệ trong theo dõi thu, chi, tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, bảo vệ tài nguyên rừng và hỗ trợ người dân địa phương ổn định đời sống, sản xuất sau thiên tai.

V. Anh