Kết nối mạng lưới phân phối, mở rộng không gian xuất khẩu
Kết nối đồng bộ thị trường trong nước với mạng lưới phân phối quốc tế và thương mại điện tử xuyên biên giới, kết hợp hoàn thiện thể chế và hạ tầng logistics, là giải pháp trọng tâm giúp doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng xuất khẩu trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động.
Mở rộng kênh phân phối, nâng năng lực xuất khẩu
9 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 5.925,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 888,02 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,5%. Tuy nhiên, xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước mới đạt 83,89 tỷ USD, tăng 7,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 80,7% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Những con số này cho thấy cần tiếp tục nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước, đồng thời tăng liên kết với các chuỗi cung ứng có vốn đầu tư nước ngoài để mở rộng cơ hội cho nhà cung cấp Việt Nam.

Trong bối cảnh thương mại quốc tế biến động, đa dạng hóa thị trường và kênh phân phối giúp doanh nghiệp có thêm phương án ứng phó khi nhu cầu, chính sách hoặc tuyến vận chuyển thay đổi. Thị trường trong nước tạo cơ sở về nguồn hàng, mạng lưới cung ứng và uy tín thương hiệu; thị trường xuất khẩu mở rộng nhu cầu, thúc đẩy nâng cao năng lực sản xuất. Trong khi đó, thương mại điện tử xuyên biên giới tạo thêm cơ hội tiếp cận người mua quốc tế, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào khả năng kết nối với hệ thống phân phối, logistics và điều kiện tiếp cận thị trường nhập khẩu.
Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách liên quan, gồm Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, Đề án thúc đẩy doanh nghiệp tham gia trực tiếp các mạng phân phối nước ngoài, Chiến lược phát triển dịch vụ logistics quốc gia thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050 và Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2026 - 2030. Yêu cầu đặt ra hiện nay là tổ chức thực hiện đồng bộ các chính sách, tăng kết nối giữa lưu thông hàng hóa trong nước, xuất khẩu và các kênh phân phối số.
Hoàn thiện thể chế, kết nối mạng lưới phân phối
Để kết nối hiệu quả thị trường trong nước với xuất khẩu, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ hoàn thiện thể chế đến phát triển kênh phân phối và logistics.
Trước hết, cần rà soát, hoàn thiện thể chế theo hướng thống nhất, minh bạch và phù hợp với hoạt động phân phối đa kênh. Hiện, Bộ Công Thương đang rà soát các luật liên quan, gồm Luật Thương mại, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Cạnh tranh và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cùng các quy định về xuất xứ, thương mại điện tử và dịch vụ logistics tại những điểm giao giữa thị trường trong nước và xuất khẩu. Việc rà soát cần hướng tới phân định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể; xử lý quy định chồng chéo, không còn phù hợp, giảm chi phí tuân thủ nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý.
Các tình huống phát sinh từ đơn hàng xuyên biên giới như hàng gửi trực tiếp, hàng tập kết tại kho ở nước ngoài, hàng bị trả lại và chứng từ điện tử cần được hướng dẫn rõ trên cơ sở pháp luật hiện hành. Đối với xuất xứ hàng hóa, cần công khai cách áp dụng quy tắc theo từng hiệp định và thị trường, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục chứng nhận xuất xứ. Đồng thời, cần phân biệt yêu cầu truy xuất nguồn gốc với việc chứng minh đáp ứng quy tắc xuất xứ ưu đãi; bảo đảm thuận lợi hóa đi đôi với kiểm tra, xác minh và phòng, chống gian lận xuất xứ, bảo vệ uy tín hàng Việt Nam.
Cùng với hoàn thiện thể chế, cần kết nối nguồn hàng trong nước với các mạng lưới phân phối và thị trường xuất khẩu. Chính sách hỗ trợ nên tạo điều kiện để nhà sản xuất tiếp cận đồng thời nhà phân phối trong nước, nhà nhập khẩu, hệ thống bán lẻ nước ngoài và các nền tảng thương mại điện tử. Việc lựa chọn kênh cần căn cứ vào đặc điểm sản phẩm, năng lực cung ứng và yêu cầu của từng thị trường.
Cơ quan quản lý cần tăng cường cung cấp thông tin về điều kiện tiếp cận thị trường, tiêu chuẩn sản phẩm và nhu cầu của nhà mua hàng; đồng thời kết nối các tổ chức trung gian và dịch vụ chuyên nghiệp. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã và cơ sở sản xuất địa phương, cần khuyến khích liên kết thông qua hiệp hội và doanh nghiệp đầu mối để hình thành nguồn cung có quy mô phù hợp.
Thông tin từ hệ thống phân phối và người mua quốc tế cũng cần được chuyển đến địa phương, ngành hàng và nhà sản xuất để định hướng nâng cấp nguồn cung. Hiệu quả chính sách không chỉ thể hiện ở khả năng mở thêm thị trường mà còn ở việc duy trì hợp đồng và nâng cao giá trị sản phẩm.
Phát triển thương mại điện tử gắn với logistics
Thương mại điện tử xuyên biên giới cần được đặt trong tổng thể chính sách xuất khẩu hàng hóa. Cơ quan quản lý cần phối hợp hướng dẫn rõ trách nhiệm của người bán, nền tảng và đơn vị cung ứng dịch vụ; hỗ trợ doanh nghiệp cập nhật kịp thời những thay đổi về chính sách, tiêu chuẩn và điều kiện tiếp cận thị trường nhập khẩu.
Một trong những ưu tiên là nâng cao hiệu quả Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và các dịch vụ công liên quan. Việc rà soát thủ tục cần hướng tới hạn chế yêu cầu cung cấp lại dữ liệu đã được tiếp nhận hợp pháp, tăng cường phối hợp kiểm tra theo quản lý rủi ro, qua đó giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới đòi hỏi dịch vụ logistics phù hợp với đặc điểm của từng kênh phân phối. Việc triển khai chiến lược logistics cần gắn với vùng sản xuất, đầu mối phân phối, cửa khẩu, cảng biển và cảng hàng không, trên cơ sở nhu cầu hàng hóa và khả năng kết nối giữa các phương thức vận tải. Các dịch vụ gom hàng, kho dùng chung, chuỗi lạnh và hoàn tất đơn hàng cần đáp ứng cả thị trường trong nước lẫn xuất khẩu.
Đặc biệt, với thương mại điện tử xuyên biên giới, cần chú trọng dịch vụ cho lô hàng nhỏ, xử lý hàng hoàn trả và kết nối với mạng phân phối ở nước ngoài. Việc hợp tác giữa doanh nghiệp logistics Việt Nam với đối tác quốc tế cần được hỗ trợ bằng thông tin, kết nối thị trường và môi trường pháp lý thuận lợi. Đồng thời, cần từng bước kết nối dữ liệu xuất nhập khẩu, logistics, xúc tiến thương mại và thương mại điện tử theo quy định pháp luật, ưu tiên khai thác các hệ thống hiện có và bảo vệ bí mật kinh doanh, dữ liệu cá nhân.
Trong tổ chức thực hiện, cần tổng hợp vướng mắc của doanh nghiệp theo từng ngành hàng và thị trường, xác định rõ quy định cần sửa đổi hoặc hướng dẫn bổ sung, cơ quan xử lý và thời hạn dự kiến. Trên cơ sở đó, lựa chọn những chuỗi hàng có nhu cầu thực tế để phối hợp hỗ trợ kết nối phân phối, xuất khẩu trực tuyến và logistics; theo dõi kết quả thông qua thời gian, chi phí tiếp cận thị trường và khả năng duy trì đơn hàng.