Chuyển hóa sáng tạo thành sức sản xuất mới dựa trên văn hóa trong thời đại Kỷ nguyên mới: Cần tiếp cận đúng tinh thần “Ba chuyển dịch lớn” và đột phá trong thể chế phát triển công nghiệp văn hóa
LTS: Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV và Nghị quyết số 80 NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030 và vươn lên 9% GDP vào năm 2045. Từ tầm nhìn chiến lược về đổi mới phương thức phát triển quốc gia đến khả năng đóng góp thực tế của văn hóa cho nền kinh tế đất nước, vẫn còn không ít “khoảng trống”, trong đó có “khoảng trống về thể chế” cho phát triển công nghiệp văn hóa cần được khắc phục.

TS. Đặng Xuân Phương
LTS: Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV và Nghị quyết số 80 NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030 và vươn lên 9% GDP vào năm 2045. Từ tầm nhìn chiến lược về đổi mới phương thức phát triển quốc gia đến khả năng đóng góp thực tế của văn hóa cho nền kinh tế đất nước, vẫn còn không ít “khoảng trống”, trong đó có “khoảng trống về thể chế” cho phát triển công nghiệp văn hóa cần được khắc phục.
Khơi thông và giải phóng sức sản xuất từ nguồn vốn văn hóa bằng đòn bẩy thể chế, dự án Luật phát triển công nghiệp văn hóa đang trình Quốc hội khóa XVI xem xét tại Kỳ họp thứ Hai cần có cách tiếp cận đúng đắn và đột phá, phù hợp với quy luật tất yếu gắn kết giữa chính trị - kinh tế - văn hóa – xã hội; bảo đảm thông suốt từ vai trò định hướng của Đảng, vai trò cung cấp khung khổ pháp lý kiến tạo và các dịch vụ công thiết yếu, mang tính “bệ đỡ” của Nhà nước đến các chủ thể trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa trong quá trình công nghiệp hóa.
Bài 1:
Giải phóng sức sáng tạo từ bản chất kinh tế của công nghiệp văn hóa
Đưa “văn hóa” trở thành động lực tăng trưởng kinh tế trực tiếp theo đúng định hướng của Đảng là một yêu cầu cấp bách. Nội dung cơ chế, chính sách được đề xuất trong dự án Luật công nghiệp văn hóa trình Quốc hội khóa XVI tại kỳ họp thứ Hai cần thoát ra khỏi tư duy định vị “công nghiệp văn hóa” giống như đối với lĩnh vực văn hóa nói chung, nhằm bảo tồn bản sắc và phát huy giá trị, với các đề xuất thiên về “ưu tiên hỗ trợ” bằng nguồn lực Nhà nước hay huy động tài trợ xã hội, hướng tới bảo đảm “Ba chuyển dịch lớn” theo tinh thần chỉ đạo của Tổng bí thư, Chủ tịch Nước Tô Lâm.
Hướng tới bảo đảm "Ba chuyển dịch lớn"
Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước Tô Lâm đã chỉ rõ hiện có bốn khoảng trống lớn đang cản trở tiến trình này. Đặc biệt là khoảng trống thứ tư về "thể chế và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa", là nơi còn thiếu sự gắn kết đồng bộ giữa “thể chế, thị trường, hạ tầng, dữ liệu, nhân lực cũng như cơ chế huy động các nguồn lực tổng hợp để chuyển hóa sức sáng tạo thành sức sản xuất mới”.

Đưa “văn hóa” trở thành động lực tăng trưởng kinh tế trực tiếp theo đúng định hướng của Đảng là một yêu cầu cấp bách, đang được Chính phủ cụ thể hóa bằng việc đề xuất xây dựng, ban hành nhiều cơ chế, chính sách, quyết định quan trọng thời gian qua. Nội dung cơ chế, chính sách được đề xuất trong dự án Luật công nghiệp văn hóa trình Quốc hội khóa XVI tại kỳ họp thứ Hai cần thoát ra khỏi tư duy định vị “công nghiệp văn hóa” giống như đối với lĩnh vực văn hóa nói chung, nhằm bảo tồn bản sắc và phát huy giá trị, với các đề xuất thiên về “ưu tiên hỗ trợ” bằng nguồn lực Nhà nước hay huy động tài trợ xã hội (vốn phù hợp với quan điểm “xã hội hóa” tồn tại hai chục năm nay) để hướng tới bảo đảm “Ba chuyển dịch lớn” theo tinh thần chỉ đạo của Tổng bí thư, Chủ tịch Nước.
Đó là: chuyển từ tư duy phát triển văn hóa sang coi coi văn hóa là trụ cột phát triển, động lực tăng trưởng mới; chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số; chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.
Do đó, việc giải quyết khoảng trống về thể chế trong quy định của Luật phải bảo đảm kiến tạo vận hành được toàn bộ hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, vừa phản ánh đúng bản chất các quy luật kinh tế đối với các hoạt động đầu tư kinh doanh dựa trên sáng tạo văn hóa; vừa xây dựng được năng lực tự chủ, phát huy toàn diện chủ quyền văn hóa quốc gia.

Kinh nghiệm của nhiều nước có nền công nghiệp văn hóa phát triển cho thấy, trong kỷ nguyên kinh tế tri thức và công nghệ số, văn hóa chính là một dạng tài nguyên tổng hợp đặc biệt, có khả năng đóng góp to lớn cho tăng trưởng kinh tế (Việt Nam hiện nay ước tính khoảng 4 % GDP và lên đến khoảng trên 5% nếu ước tính cả các dịch vụ có liên quan).
Ngày nay, các sản phẩm văn hóa đại chúng được tiếp cận dễ dàng thông qua mọi hình thức. Nhưng các sản phẩm văn hóa, giải trí do người Việt tạo ra đã trở thành trở thành một phần tất yếu đồng hành với nền kinh tế công nghiệp hóa hay chưa thì chưa nhận được nhiều sự chú ý.
Trong cuộc làm việc của Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết với các cơ quan, ban ngành Trung ương và địa phương ngày 17/9/2026 về phát huy vai trò của văn hóa đóng góp cho phát triển kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV, bên cạnh ghi nhận những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chúng ta mới chỉ thấy được thành quả kinh tế của văn hóa nổi bật ở lĩnh vực du lịch văn hóa và công nghiệp giải trí, nhất là một số địa phương quen thuộc như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Ninh Bình, Đà Nẵng… trong khi còn rất nhiều ngành kinh tế văn hóa khác cần thúc đẩy nhưng chưa có sáng kiến chính sách hướng đến đúng chỗ.

Khái niệm công nghiệp văn hóa ở Việt Nam đang được số đông tiếp cận theo nghĩa hẹp (đặt trọng tâm vào các ngành giải trí/truyền thông/du lịch, dịch vụ văn hoá), chưa hướng tới giải quyết vấn đề cốt lõi. Đó là làm thế nào để thu hút các khu vực kinh tế tiềm năng nhất, hiện chiếm khoảng hơn 2/3 % quy mô GDP cả nước, thực sự quan tâm, dám bỏ tiền đầu tư để các sản phẩm công nghiệp văn hóa giữ vị trí trung tâm trong chiến lược marketing của họ, hoặc coi đây là một lĩnh vực kinh doanh giàu tiềm năng. Nhờ đó, sáng tạo văn hóa mới thẩm thấu được vào toàn bộ nền kinh tế, thực sự trở thành động năng sản xuất mới.
Khi kinh tế tư nhân nhập cuộc cùng “bệ đỡ” của Nhà nước
Nhu cầu phát triển công nghiệp văn hóa tại các nước công nghiệp phát triển xuất phát từ mối quan hệ cộng sinh khi giữa khu vực kinh tế tư nhân (giới tư bản công thương cùng với giới tư bản tài chính) và Nhà nước. Trong đó:
(1) Khu vực kinh tế tư nhân sử dụng nhân tố “sáng tạo” trong văn hóa như một lực lượng sản xuất mới nhằm thoát khỏi tình trạng “bão hòa” sản xuất công nghiệp. Khi quy mô sản xuất hàng hóa công nghiệp đã đủ lớn và các mặt hàng sản xuất không chỉ cạnh tranh đơn thuần bằng độ bền hay tính năng kỹ thuật, thì văn hóa (thông qua âm nhạc, điện ảnh, thiết kế, thời trang …) lại cho phép tạo ra giá trị thặng dư cao hơn nhiều. Do đó, động lực đầu tư từ giới công thương sẽ chuyển từ bán “vật phẩm” (với giới hạn tính năng sử dụng thuần tuý) sang bán “lối sống” bởi cảm xúc luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu làm nên thương hiệu cho các sản phẩm.

(2) Nhà nước cần khu vực kinh tế tư nhân (trung tâm là giới công thương nghiệp) đổ tiền đầu tư nhiều hơn cho văn hóa để tái cơ cấu kinh tế và gia tăng sức mạnh mềm quốc gia. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, làn sóng đầu tư ra nước ngoài trong công nghiệp truyền thống dâng lên trong xu thế toàn cầu hóa. Chính phủ nhiều nước phát triển đã lựa chọn chính sách xác lập động cơ tăng trưởng mới dựa trên kinh tế tri thức, kinh tế sáng tạo nhằm tạo ra tỷ suất sinh lời vượt trội. Nhờ đó, các ngành kinh tế của họ có thể tận dụng giá trị gia tăng của các thương hiệu, mở rộng thị trường thông qua việc truyền bá lối sống và thị hiếu thẩm mỹ ra thế giới. Khi văn hóa đại chúng của một quốc gia được đón nhận rộng rãi trên thị trường quốc tế thì rào cản “tâm lý tiêu dùng” đối với hàng hóa công nghiệp của quốc gia đó cũng sẽ được triệt tiêu.
Tất nhiên, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân hay Nhà nước chủ động dẫn dắt cuộc chơi đầu tư cho công nghiệp văn hóa còn tùy thuộc vào bối cảnh, tính đặc thù ở từng quốc gia. Tuy nhiên, các mô hình phát triển công nghiệp văn hóa.thành công trên thế giới dưới đây đều cho thấy không thể thiếu sự vào cuộc của khu vực kinh tế tư nhân bên cạnh “bệ đỡ” của Nhà nước.
Điển hình như Anh: Nhà nước khởi xướng chính sách đồng hành cùng khu vực kinh tế tư nhân: Đầu thập niên 1990, Chính phủ Anh đã triển khai chiến lược phát triển "Creative Industries" (Công nghiệp sáng tạo) nhằm phục hồi kinh tế đối với các trung tâm đô thị công nghiệp cũ. Chính phủ định hướng chiến lược tái định vị công nghiệp và kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa chủ yếu là bằng chính sách thuế khuyến khích, thúc đẩy rót vốn vào các lĩnh vực như: thiết kế, âm nhạc, thời trang tạo nên các thương hiệu hàng hoá được định vị xa xỉ và “sành điệu”.
Hàn Quốc: Nhà nước chủ động kiến tạo, buộc các tập đoàn công nghiệp và tài phiệt (Chaebol) nhập cuộc. Từ cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, Chính phủ dẫn dắt về chiến lược, tạo hành lang pháp lý, bảo hiểm rủi ro đầu tư cho công nghiệp văn hoá và thúc đẩy ngoại giao văn hóa, đồng thời buộc các Chaebol đa ngành phải liên kết với các ngân hàng để phát triển hệ sinh thái công nghiệp hóa, tiến hành quy chuẩn hóa quy trình đào tạo (như về âm nhạc K-Pop, điện ảnh K-Drama) kết hợp lồng ghép lối sống nhằm tạo hiệu ứng lan toả cho văn hóa đại chúng Hàn ra toàn cầu kèm theo các sản phẩm công nghiệp tiêu dùng.

Trung Quốc: Nhà nước chủ động chỉ đạo, điều tiết và kiểm soát toàn bộ thị trường công nghiệp văn hoá, kết hợp phát huy vai trò thực thi của các tập đoàn công nghệ số tư nhân. Với việc coi “sản nghiệp văn hóa” là lĩnh vực an ninh tư tưởng kết hợp yếu công nghệ là hạt nhân của sức sản xuất, Nhà nước đóng vai trò vừa kiến tạo, vừa dẫn dắt, vừa quản lý chặt chẽ tài nguyên văn hóa và thiết lập các lớp hàng rào bảo vệ. Địa phương chủ động quy hoạch phát triển các trung tâm công nghiệp văn hóa phục vụ du lịch, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn… dựa trên khai thác tối đa tiềm năng di sản văn hóa Trung Hoa. Các Big-Tech tư nhân là người thực thi vận hành chuỗi giá trị thương mại (trọng tâm là đầu tư phát triển các nền tảng số xuyên quốc gia, phát triển các game online và đầu tư công viên giải trí chủ đề) với sự hỗ trợ đặc biệt từ các ngân hàng lớn của nhà nước...
Mặc dù các chủ thể tham gia vào hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. đã được nhận diện trong dự thảo Luật phát triển công nghiệp văn hóa, tuy nhiên do chưa có sự phân biệt rõ vai trò tương ứng với tầm quan trọng, mức độ tham gia của từng chủ thể hoặc nhóm chủ thể trong chuỗi giá trị (sáng tạo – sản xuất – phân phối - tiêu dùng – tái đầu tư) của hệ sinh thái này nên còn có sự lúng túng trong việc đưa ra các cơ chế, chính sách phù hợp đối với tất cả các nhóm chủ thể.
Hiện mới có một số đề xuất cơ chế, chính sách ưu tiên rõ rệt đối với ngành công nghiệp xây dựng dân dụng hoặc hỗ trợ một nội dung cụ thể trong lĩnh vực văn hoá chuyên ngành (như điện ảnh). Chúng ta cũng rất cần luật hóa các chính sách thúc đẩy công nghiệp văn hóa gắn với tiêu dùng, xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ trong nước. Nhất là trong bối cảnh sức ép cạnh tranh trên toàn cầu và mức thuế nhập khẩu vào một số thị trường lớn hiện không có lợi cho đất nước
Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh hoạt động ngoài lĩnh vực văn hóa và giới sáng tạo văn hoá ở nước ta hiện nay chủ yếu dừng lại ở các hợp đồng tài trợ ngắn hạn, như một kênh quảng cáo riêng lẻ, chưa coi các dự án điện ảnh, nghệ thuật là cơ hội đầu tư chiến lược nhờ nhận nhượng quyền khai thác tài sản sáng tạo văn hóa dài hạn.

Trong khi các doanh nghiệp dệt may, da giày, bánh kẹo, thiết bị giáo dục của Việt Nam sẵn sàng chi hàng trăm nghìn USD để mua bản quyền khai thác thương hiệu văn hóa phẩm của các tập đoàn công nghiệp giải trí lớn trên thế giới như Disney, Marvel (Hoa Kỳ), Sanrio (Nhật Bản), Phinkfong, Iconnix (Hàn Quốc)… thì nhiều biểu tượng văn hó bản sắc Việt của các nghệ sĩ trẻ không có cơ hội vào nhà máy sản xuất trong nước.
Mặc dù các doanh nghiệp nội địa dường như quan tâm hơn đến những ưu đãi về thuế nhưng thực chất chưa có các ưu đãi vượt trội khuyến khích các khu vực sản xuất, kinh doanh khác rót vốn vào các dự án công nghiệp văn hóa. Điều đó cho thấy, khi hệ thống sản xuất chưa nhập cuộc vào chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa đúng nghĩa thì cần đặt ra câu hỏi liệu cách tiếp cận của dự án Luật đã phản ánh được đúng bản chất kinh tế giữa quan hệ giữa vai trò định hình, dẫn dắt công nghiệp văn hoá của Nhà nước và các khu vực kinh tế trong nước hay chưa.
Hạch toán chi phí cho công nghiệp văn hóa, định lượng giá trị gia tăng?
Phương pháp luận kinh tế cho công nghiệp văn hóa: liệu có thể hạch toán được chi phí cho công nghiệp văn hóa và định lượng được giá trị gia tăng của sáng tạo văn hoá trong năng suất nhân tố tổng hợp?
Dự thảo Luật xác định đưa ra khái niệm các ngành công nghiệp văn hóa với dự kiến trước mắt xác định 10 ngành/nhóm ngành, gồm: Điện ảnh; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc: phần mềm nội dung số và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hoá, ẩm thực; thiết kế sáng tạo, thời trang, kiến trúc; truyền hình và phát thanh; xuất bản.

Ở đây, việc xếp chung các ngành sự nghiệp văn hóa đang được hưởng cơ chế ngân sách Nhà nước bảo đảm, hỗ trợ trực tiếp phần lớn nguồn lực với các ngành đã chuyển hẳn sang cơ chế thị trường (như thiết kế sáng tạo, thời trang, kiến trúc, du lịch văn hoá, ẩm thực) lại tiếp tục cho thấy đang có hai vấn đề then chốt chưa được giải quyết về mặt phương pháp luận kinh tế cho phát triển công nghiệp văn hoá trong dự thảo Luật, đó là:
Chưa thể hạch toán rõ ràng chi phí đầu tư sản phẩm công nghiệp văn hóa, nhất là ở các ngành sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm. Công nghiệp văn hóa triển khai theo chuỗi giá trị: sáng tạo – sản xuất – phân phối – tiêu dùng – tái đầu tư, nhưng nếu không hạch toán được ở các khâu quan trọng trong chuỗi giá trị này thì việc tiến hành hợp tác công tư rất khó khăn. Trong khi các sản phẩm, dịch vụ văn hóa do ngân sách nhà nước chi trả sẽ gắn với các mục tiêu phục vụ nhiệm vụ chính trị hoặc các nhiệm vụ phi lợi nhuận, mang tính phúc lợi thì sản phẩm văn hóa do tư nhân đầu tư sẽ chú trọng tới khả năng sinh lời, làm tăng giá trị các mặt hàng tiêu dùng ăn theo trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.
Chưa có chế độ điều tra, thống kê đo lường phần giá trị gia tăng của yếu tố sáng tạo văn hóa trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hoá, đồng bộ hoá với các quy định của pháp luật về kế toán, giá và thuế đối với tài sản vô hình. Xét về bản chất, sáng tạo văn hóa chính là một cấu phần của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và là tài sản vô hình thu hút đầu tư phát triển công nghiệp văn hóa, nên các nước đi trước đều phải tìm kiếm mô hình hạch toán phù hợp đối với phần đóng góp của sáng tạo văn hóa trong TFP.

Trên thế giới, hiện có nhiều phương pháp đo lường, đánh giá đang được áp dụng tuỳ theo quan điểm chính sách của Nhà nước lựa chọn trường phái kinh tế học phù hợp với mục tiêu quản trị cần đạt được. Tuy nhiên, TFP phản ánh mức độ tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu nên sáng tạo văn hóa suy cho cùng vẫn bị hoà lẫn vào các yếu tố: tiến bộ công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng lực tổ chức quản lý, kỹ năng lao động (ở những trình độ rất khác biệt trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật). Do đó, thực chất không thể bóc tách tuyệt đối phần giá trị gia tăng của yếu tố sáng tạo văn hóa đối với tất cả các sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Một cách khả dĩ hơn, pháp luật nước ta có thể quy định theo hướng phân biệt 2 nhóm: (1) Sản phẩm sáng tạo nội dung văn hóa là hàng hóa, dịch vụ văn hóa cốt lõi, chứa đựng toàn bộ (100%) giá trị của sáng tạo văn hoá gắn với quyền sở hữu trí tuệ (tác phẩm điện ảnh, video ca nhạc, xuất bản phẩm văn học, nghệ thuật …, là các sản phẩm cần định hướng tư tưởng) và (2) Sản phẩm công nghiệp văn hoá ứng dụng là hàng hóa, dịch vụ có chức năng tiêu dùng thông thường, phản ánh một phần giá trị gia tăng của sáng tạo văn hóa thông qua các hình thức nhận diện sản phẩm (thương hiệu, bộ nhận diện …).
Trong trường hợp này, cần luật hóa phạm trù “tài sản sáng tạo văn hóa” để không trùng dẫm hoàn toàn với quyền sở hữu trí tuệ nhưng vẫn đủ để bao quát các quyền khai thác phái sinh từ quyền sở hữu trí tuệ, với tư cách là nguồn vốn cốt lõi tạo nên giá trị gia tăng cho hàng hóa, dịch vụ, truyền tải giá trị thẩm mỹ hoặc biểu tượng tinh thần, biểu đạt bản sắc văn hóa.

Đối với các sản phẩm công nghiệp văn hóa ứng dụng, việc bóc tách được phần giá trị gia tăng của tài sản sáng tạo văn hóa với công năng tiêu dùng thuần tuý của sản phẩm (ví dụ, việc xác định giá trị đóng góp của thiết kế kiểu dáng trong các sản phẩm túi sách, dày da …) là cần thiết, giúp cho các nhà đầu tư có thể đánh giá được tiềm năng kinh doanh của sản phẩm.
Từ đó cũng đặt ra vấn đề phải điều chỉnh, bổ sung một cách đồng bộ các quy định của pháp luật về thống kê, kế toán, giá và thuế liên quan đến dạng tài sản vô hình là “tài sản sáng tạo văn hóa” trong sản phẩm của các ngành hàng tiêu dùng khi tham gia chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.