Quốc phòng - An ninh

Hoàn thiện hành lang pháp lý về định danh và xác thực điện tử

Nguyễn Ngân • 25/10/2026 08:12

Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, định danh và xác thực điện tử là nền tảng bảo đảm an toàn giao dịch trực tuyến, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy kinh tế số. Việc xây dựng Luật Định danh và xác thực điện tử nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, mở rộng phạm vi định danh, tăng cường phòng, chống tội phạm công nghệ cao và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Mở rộng phạm vi định danh, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số

Theo Bộ Công an, việc xây dựng Luật Định danh và xác thực điện tử xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật, phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, đồng thời bảo đảm an ninh, an toàn trên môi trường mạng.

Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế, xã hội ngày càng dịch chuyển lên môi trường điện tử, định danh và xác thực điện tử giữ vai trò quan trọng trong việc xác định chính xác chủ thể giao dịch, củng cố niềm tin và hạn chế rủi ro. Phạm vi định danh vì thế cần được mở rộng, không chỉ đối với cá nhân mà còn bao gồm tổ chức, hàng hóa, tài sản, dữ liệu và các đối tượng khác trên môi trường số.

library-20261024150401-aa8ac807-3210-47f2-9ac0-152773df6279-dinh-danh-4.jpg
Lực lượng Công an hướng dẫn người dân cài đặt tài khoản định danh cá nhân trên ứng dụng VNeID. (Ảnh: Bộ Công an)

Thực tiễn đặt ra yêu cầu xây dựng khung pháp lý thống nhất, đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của công nghệ. Đặc biệt, việc mở rộng từ định danh cá nhân sang định danh vạn vật, bao gồm phương tiện, địa điểm, hàng hóa, bất động sản, hạ tầng kết nối vạn vật và tài sản số, là yêu cầu cấp thiết.

Việc ban hành luật sẽ tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động định danh, xác thực điện tử an toàn, tin cậy; góp phần phòng ngừa tội phạm mạng, ngăn chặn tình trạng sử dụng SIM nặc danh, tài khoản ảo để lừa đảo trực tuyến và hành vi giả mạo sinh trắc học bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo.

Dự thảo Luật xác định 5 nhóm đối tượng định danh điện tử, gồm: cơ quan, tổ chức, cá nhân; sản phẩm, hàng hóa, tài sản vật chất và các đối tượng vật chất khác; cơ sở dữ liệu, tệp dữ liệu, hình ảnh, âm thanh, video, ứng dụng, phần mềm và các dịch vụ số; sự kiện, giao dịch, hành vi; địa điểm và không gian. Đồng thời, dự thảo Luật giao Chính phủ quy định việc định danh, xác thực điện tử đối với các đối tượng thuộc lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cơ yếu.

Dự thảo đồng thời đề cao nguyên tắc thu thập dữ liệu ở mức tối thiểu, không thu thập lại dữ liệu đã có; nghiêm cấm sử dụng sinh trắc học giả hoặc công nghệ để tạo lập, giả mạo danh tính điện tử. Việc ghi nhận, lưu vết, truy vết và xác định trách nhiệm giải trình cũng được đặt ra nhằm tăng cường tính minh bạch, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.

Xây dựng hệ thống đồng bộ, thúc đẩy giao dịch điện tử an toàn

Dự thảo Luật tập trung vào 6 nhóm nội dung: đối tượng định danh điện tử; mô hình định danh điện tử; Hệ thống định danh và xác thực điện tử; đối tượng, mô hình xác thực điện tử; dịch vụ định danh, xác thực điện tử và nguyên tắc công nhận lẫn nhau đối với danh tính điện tử, kết quả xác thực điện tử của nước ngoài.

Về mô hình định danh điện tử, dự thảo Luật quy định việc định danh điện tử được thực hiện theo 02 phương thức. Theo đó, Nhà nước đầu tư, thiết lập hệ thống, nền tảng để trực tiếp thực hiện hoạt động định danh điện tử đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân; địa điểm, không gian; đối tượng thuộc dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng; đối tượng đã được chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng; sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao và đối tượng thuộc bí mật nhà nước.

Cách tiếp cận này vừa bảo đảm vai trò quản lý của Nhà nước đối với các lĩnh vực trọng yếu, vừa tạo điều kiện huy động nguồn lực xã hội, phát triển dịch vụ định danh thương mại.

Về hạ tầng kỹ thuật, hệ thống định danh và xác thực điện tử gồm Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử, nền tảng định danh và xác thực điện tử, ứng dụng VNeID, hệ thống quản lý hiệu lực danh tính điện tử, cổng định danh và xác thực điện tử quốc gia cùng các hệ thống liên quan.

Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống sẽ hỗ trợ quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính và tạo thuận lợi cho giao dịch trực tuyến.

Đối với hoạt động xác thực điện tử, dự thảo quy định ba mô hình: xác thực tập trung, xác thực trung gian và xác thực độc lập. Đồng thời, việc liên kết, xác thực danh tính điện tử được yêu cầu đối với giao dịch trên nền tảng số thuộc một số lĩnh vực, nhằm xác định chính xác chủ thể tham gia và nâng cao độ an toàn của giao dịch.

Dự thảo cũng quy định điều kiện đối với tổ chức cung cấp dịch vụ định danh, xác thực điện tử, từ tư cách pháp nhân, năng lực tài chính, hạ tầng kỹ thuật đến nhân sự, quy trình nghiệp vụ và yêu cầu bảo vệ dữ liệu, an ninh mạng. Đây là cơ sở bảo đảm chất lượng dịch vụ, hạn chế nguy cơ mất an toàn thông tin và bảo vệ người sử dụng.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, dự thảo đặt ra nguyên tắc công nhận lẫn nhau đối với danh tính điện tử và kết quả xác thực điện tử của nước ngoài trong các giao dịch xuyên biên giới. Việc chuẩn hóa dữ liệu theo tiêu chuẩn chung được kỳ vọng giúp doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc hàng hóa và năng lực cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, dự thảo đồng thời sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan tại Luật Giao dịch điện tử, Luật Căn cước, Luật Chuyển đổi số, Luật Thương mại điện tử và Luật Đầu tư.

Với những chính sách được đề xuất, Luật Định danh và xác thực điện tử hướng tới xây dựng khuôn khổ pháp lý đồng bộ, bảo đảm an ninh, an toàn trên môi trường số, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, tạo nền tảng thúc đẩy giao dịch điện tử và phát triển kinh tế số, xã hội số.

Nguyễn Ngân