Nâng chế độ kiểm thực ba bước và lưu mẫu thức ăn thành quy định của luật
Thảo luận về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) tại Tổ 4 (gồm Đoàn ĐBQH TP. Đồng Nai và tỉnh Quảng Trị, Điện Biên, trước lo ngại về an toàn thực phẩm tại các bếp ăn tập thể, các đại biểu đề nghị nâng chế độ kiểm thực ba bước và lưu mẫu thức ăn thành quy định của luật. Cùng với đó, bổ sung nghĩa vụ của các đơn vị cung cấp dịch vụ chế biến, cung cấp suất ăn.

Lấp "khoảng trống" pháp lý về nghĩa vụ khi sử dụng suất ăn thuê ngoài
ĐBQH Lê Hoàng Hải đánh giá cao những điểm mới của dự thảo Luật lần này đã thể hiện bước chuyển biến phù hợp với xu thế quốc tế, đặc biệt là Chiến lược toàn cầu về an toàn thực phẩm 2022–2030 của WHO, nguyên tắc của Codex và Hiệp định SPS…
.jpg)
Đề cập đến vấn đề quản lý an toàn thực phẩm tại bếp ăn tập thể, đại biểu Lê Hoàng Hải đã chỉ ra một số bất cập cần phải giải quyết trong dự thảo như: tiêu chí miễn Giấy chứng nhận chưa phản ánh hết mức độ nguy cơ; khái niệm “bếp ăn tập thể” chưa thống nhất. Đặc biệt, đại biểu lo ngại vẫn còn khoảng trống về nghĩa vụ truy xuất nguồn gốc và nghĩa vụ khi sử dụng suất ăn thuê ngoài. Bởi thực tế, chế độ kiểm thực ba bước và lưu mẫu thức ăn (lưu mọi món của bữa ăn từ 30 suất trở lên, tối thiểu 24 giờ, ở 2°C đến 8°C) hiện chỉ được hướng dẫn tại Quyết định số 1246/QĐ-BYT- một quyết định hành chính không thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Từ các bất cập trên, đại biểu đề nghị: bổ sung một khoản vào Điều 10: “Bếp ăn tập thể phục vụ trẻ em, học sinh tại cơ sở giáo dục, người bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, người cao tuổi tại cơ sở trợ giúp xã hội phải cập nhật thông tin trên Hệ thống cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm; thuộc đối tượng hậu kiểm ưu tiên theo điểm d khoản 2 Điều 57 và không bị giới hạn bởi tần suất kiểm tra quy định tại khoản 8 Điều 57 của Luật này”.
"Phương án này không phát sinh thủ tục hành chính mới mà vẫn tập trung được nguồn lực hậu kiểm vào nơi nguy cơ cao nhất", đại biểu Lê Hoàng Hải nhấn mạnh.
Cùng với đó, đại biểu cũng đề xuất sửa khoản 1 Điều 10 theo hướng dẫn chiếu đầy đủ “khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 34”, để bếp ăn tập thể không vì mục đích kinh doanh cũng phải lưu giữ thông tin nguồn gốc nguyên liệu và lưu mẫu thức ăn. Bổ sung vào khoản 2 Điều 10 nghĩa vụ của bên tổ chức bếp ăn khi sử dụng suất ăn thuê ngoài. Bổ sung định nghĩa “bếp ăn tập thể” vào Điều 2 và chỉnh lý khoản 7 Điều 2 tương ứng.
Đặc biệt, đại biểu đề nghị cần nâng chế độ kiểm thực ba bước và lưu mẫu thức ăn thành quy định của Luật tại Điều 34, giao Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết bằng thông tư thay cho quyết định hành chính hiện nay…
.jpg)
Từ thực tiễn của Đồng Nai – nơi tập có nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp, trường học, bệnh viện, ĐBQH Nguyễn Quốc Dũng (TP. Đồng Nai) nhận định, việc cung cấp suất ăn tập thể hiện nay chủ yếu xoay quanh hai hình thức: Thứ nhất, ký hợp đồng với đơn vị cung cấp dịch vụ tổ chức chế biến, nấu ăn tại bếp ăn của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc cơ sở; thứ hai, ký hợp đồng với đơn vị chế biến suất ăn tại địa điểm khác, sau đó vận chuyển đến nơi phục vụ.
Đại biểu cho rằng, cả hai mô hình này đều tiềm ẩn rủi ro lớn đến sức khỏe người sử dụng nếu khâu kiểm soát từ nguyên liệu sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển đến khi cung cấp bữa ăn cho người sử dụng lỏng lẻo….
Nhằm hạn chế những rủi ro tiềm ẩn về sức khỏe cho người dân, đại biểu đề nghị tại Điều 10 bổ sung nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tổ chức bữa ăn tập thể và đơn vị cung cấp dịch vụ chế biến, cung cấp suất ăn trong việc phối hợp, tạo điều kiện để người sử dụng suất ăn thông qua tổ chức, cá nhân đại diện theo quy định của pháp luật tham gia giám sát an toàn thực phẩm; nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan và tiếp nhận, xem xét, trả lời kiến nghị theo phạm vi trách nhiệm.
Đồng thời, tại Điều 11, bổ sung vào khoản 1 với nội dung: được tham gia giám sát an toàn thực phẩm thông qua tổ chức đại diện theo quy định của pháp luật hoặc người đại diện được lựa chọn, được ủy quyền hợp pháp; được tiếp cận thông tin cần thiết, phản ánh và kiến nghị xử lý nguy cơ mất an toàn thực phẩm...
Từ hai đề xuất nêu trên, đại biểu cũng đề nghị quy định trong Luật các nguyên tắc đại diện cho người tiêu dùng, phạm vi giám sát và trách nhiệm phối hợp; giao Chính phủ quy định chi tiết cơ chế thực hiện phù hợp với doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, cơ sở y tế và các đơn vị tổ chức bữa ăn tập thể khác. Cơ chế này cần làm rõ việc xác lập đại diện, nội dung thông tin được tiếp cận, phương thức giám sát và trách nhiệm xử lý kiến nghị; bảo đảm hoạt động giám sát không mang tính hình thức.
Tăng cường công khai, minh bạch trong công tác quản lý an toàn thực phẩm
Đồng quan điểm với các đại biểu nêu trên, ĐBQH Nguyễn Thanh Liêm (Quảng Trị) cho rằng, để giải quyết căn cơ bài toán vệ sinh an toàn thực phẩm, hiệu quả quan trọng nhất đó là sự công khai, minh bạch. Theo đại biểu, chỉ khi toàn dân biết, toàn dân giám sát, toàn dân thực hiện thì lúc đó hiệu lực quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm mới được đảm bảo một cách bền vững nhất.

Từ bài học của các nước tiên tiến trên thế giới, đại biểu khẳng định, "mắt xích" quan trọng không kém nhằm tạo sự chuyển biến trong vấn đề an toàn thực phẩm đó chính là ý thức, trách nhiệm tự giác của từng chủ thể trong chuỗi thực phẩm. Người sản xuất phải bảo đảm chất lượng nguyên liệu, cơ sở kinh doanh phải bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng.
Về cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, đại biểu Nguyễn Thanh Liêm đồng tình với quan điểm giao Bộ Y tế chủ trì, giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này. Các bộ, ngành khác phối hợp theo chức năng, nhiệm vụ.
Đối với quy định phân loại nguy cơ tại khoản 4, Điều 51, đại biểu đề nghị chia thành ba mức: cao, trung bình và thấp, thay vì hai mức như dự thảo, nhằm có biện pháp quản lý phù hợp hơn.
Ngoài ra, đại biểu cũng đề xuất giải pháp dán nhãn chất lượng, an toàn trên thực phẩm; có sự đánh giá uy tín của nhà cung cấp nguyên liệu và sản phẩm. Việc này có thể giúp người dân nhận biết chất lượng thực phẩm, đồng thời lựa chọn các đơn vị cung ứng đáng tin cậy cho trường học, bệnh viện và nhà máy.
Đồng thời, cơ quan chủ trì soạn thảo, đặc biệt là Bộ Y tế, tiếp tục nghiên cứu các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả quản lý, bảo đảm an toàn thực phẩm từ khâu sản xuất đến bàn ăn.

Cùng quan tâm đến yêu cầu tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm, đại biểu Vừ A Bằng (Điện Biên) đề nghị nghiên cứu lại danh mục cơ sở không phải cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm tại dự thảo Luật, trong đó quy định nhà hàng trong khách sạn và bếp ăn tập thể không đăng ký ngành nghề kinh doanh thực phẩm.
Theo đại biểu, đây là những loại hình có thể hoạt động thường xuyên, phục vụ số lượng lớn người ăn; một số nhà hàng trong khách sạn còn tổ chức tiệc cưới, hội nghị, sự kiện với nhiều suất ăn, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn thực phẩm nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Cần nghiên cứu phân loại theo quy mô, tính chất hoạt động và phạm vi phục vụ để xác định cụ thể trường hợp phải cấp hoặc không phải cấp, phù hợp với mức độ rủi ro và yêu cầu quản lý nhà nước.
Đối với quy định thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, đại biểu đề xuất sửa đổi quy định theo hướng, chỉ tính các vụ ngộ độc làm căn cứ thu hồi giấy chứng nhận khi kết quả điều tra, xác minh xác định có liên quan đến thực phẩm do cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh hoặc cung cấp. Đồng thời, cần phân biệt rõ việc thu hồi giấy chứng nhận với các biện pháp khẩn cấp cần thiết để ngăn chặn, xử lý nguy cơ mất an toàn thực phẩm trong thời gian điều tra, xác minh.