Mở rộng đối tượng hỗ trợ, phát huy giá trị kinh tế của di sản
Thảo luận tại Tổ 9 (Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình và thành phố Huế) về dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, các đại biểu đề nghị hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng mở rộng cơ hội tiếp cận hỗ trợ, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và bổ sung cơ chế khai thác giá trị di sản, qua đó thúc đẩy sự gắn kết giữa văn hóa, du lịch và hoạt động sáng tạo.
Mở rộng chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp văn hóa
Góp ý hoàn thiện dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, ĐBQH Bùi Văn Mạnh (Ninh Bình) tán thành cao với sự cần thiết ban hành luật, đồng thời đề nghị hoàn thiện các chính sách theo hướng phát huy giá trị văn hóa, huy động nguồn lực xã hội, tạo động lực phát triển kinh tế gắn với bảo tồn di sản và nâng cao đời sống Nhân dân.

Từ thực tiễn địa phương, đại biểu cho rằng, du lịch là cầu nối quan trọng thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa như nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, ẩm thực, thiết kế và nội dung số. Ninh Bình có nguồn tài nguyên văn hóa, di sản phong phú, tạo điều kiện phát triển các sản phẩm du lịch đặc sắc. Tuy nhiên, sự liên kết giữa du lịch và công nghiệp văn hóa vẫn chưa hình thành đầy đủ chuỗi sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm.
Vì vậy, để hoàn thiện dự thảo luật, đại biểu Bùi Văn Mạnh đề nghị xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần tập trung vào sáu nhóm vấn đề: Làm rõ phạm vi công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa và ẩm thực, lấy giá trị văn hóa, hoạt động sáng tạo làm nền tảng; Mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách, bảo đảm doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh, nghệ nhân, tổ hợp tác, cá nhân sáng tạo và cộng đồng được tiếp cận các hỗ trợ; Phát huy tính chủ động của địa phương trong ban hành chính sách hỗ trợ đặc thù, phù hợp với tiềm năng, bản sắc văn hóa và khả năng cân đối ngân sách; Bổ sung cơ chế để cộng đồng tham gia và hưởng lợi từ việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống; Tạo điều kiện tiếp cận không gian sáng tạo, hạ tầng và thị trường; Đơn giản hóa thủ tục, bảo đảm nguồn lực thực hiện.
Đại biểu Bùi Văn Mạnh khẳng định, phát triển công nghiệp văn hóa cần gắn chặt với bảo tồn và phát huy giá trị di sản, lấy người dân làm trung tâm. Khi người dân có sinh kế bền vững từ văn hóa, họ sẽ có thêm điều kiện và động lực gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Đại biểu mong muốn dự án luật sớm được thông qua, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho các địa phương triển khai thực hiện.
Về hiệu quả chính sách hỗ trợ, ưu đãi tại các điều 29 - 37 của dự thảo Luật, một số đại biểu nhấn mạnh cần có chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp văn hóa, song lưu ý nguồn lực ngân sách có giới hạn. Nếu thiếu tiêu chí và đánh giá kết quả, chính sách có thể bị dàn trải, kém hiệu quả hoặc trùng lặp với các chính sách hỗ trợ khác.
ĐBQH Phạm Hùng Thắng (Ninh Bình) đề nghị công khai mục tiêu, đối tượng, tiêu chí lựa chọn và kết quả hỗ trợ; xác định chỉ tiêu đầu ra phù hợp với từng chính sách. Đối với dự án bảo tồn, phát huy di sản, cần đánh giá giá trị văn hóa và khả năng tiếp cận của cộng đồng; đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và sản phẩm sáng tạo, cần xem xét thêm thị trường, doanh thu, việc làm và khả năng lan tỏa.

Bên cạnh đó, cần có cơ chế phòng ngừa hỗ trợ trùng lặp từ nhiều nguồn, đánh giá định kỳ để điều chỉnh hoặc chấm dứt chính sách không còn phù hợp. Các ưu đãi về thuế, đất đai, đầu tư và ngân sách phải được đối chiếu với pháp luật chuyên ngành, không tạo quyền hưởng ưu đãi mặc nhiên khi chưa đáp ứng đủ điều kiện.
Theo đại biểu, quy định rõ các nguyên tắc này sẽ giúp chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp văn hóa có trọng tâm, tạo cơ hội thực chất cho các chủ thể sáng tạo, đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình về hiệu quả sử dụng nguồn lực công.
Bổ sung quy định về “kinh tế di sản” trong phát triển công nghiệp văn hóa
Nhấn mạnh phát triển công nghiệp văn hóa không thể tách rời việc bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị di sản, ĐBQH Nguyễn Tiến Hùng (thành phố Huế) đề nghị bổ sung thuật ngữ “kinh tế di sản” tại khoản 2 Điều 2 của dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Bởi di sản không chỉ là tài sản cần bảo vệ, lưu giữ mà còn là nguồn lực tạo ra giá trị vật chất, thẩm mỹ cho xã hội. Việc ghi nhận kinh tế di sản sẽ tạo cơ sở pháp lý để khai thác hợp lý giá trị di sản, phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa, du lịch gắn với yêu cầu bảo tồn.

Đại biểu đề nghị bổ sung “không gian di sản văn hóa, di tích lịch sử” vào quy định về cơ sở vật chất công nghiệp văn hóa tại khoản 10 Điều 2 dự thảo Luật. Quy định này nhằm tạo cơ sở tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo phù hợp với chức năng, giá trị và yêu cầu bảo vệ di tích.
Cùng với đó, cơ quan soạn thảo cũng cần tiếp tục điều chỉnh, bổ sung khoản 3 Điều 4 về chính sách phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng quy định rõ việc huy động nguồn lực xã hội, đầu tư tư nhân, hợp tác công tư và khai thác tài sản, kết cấu hạ tầng văn hóa theo quy định pháp luật có liên quan; đồng thời thực hiện cơ chế bảo lãnh tín dụng đối với khoản vay được bảo đảm bằng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định.
Mặt khác, đại biểu đề nghị bổ sung Điều 20 dự thảo Luật quy định về sử dụng không gian di sản văn hóa, di tích lịch sử cho hoạt động công nghiệp văn hóa, với ba nguyên tắc: không ảnh hưởng đến yếu tố cấu thành và cảnh quan văn hóa của di tích; tuân thủ đề án khai thác tài sản kết cấu hạ tầng văn hóa được cấp có thẩm quyền phê duyệt; không thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 7 của dự thảo Luật.
Cân nhắc mở rộng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm an toàn thực phẩm
Cho ý kiến về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Lê Thị Nga (ĐBQH Ninh Bình) nhấn mạnh, an toàn thực phẩm là vấn đề được cử tri, Nhân dân và các ĐBQH đặc biệt quan tâm. Trong nhiều năm qua, đã xảy ra nhiều vụ vi phạm an toàn thực phẩm, ngộ độc thực phẩm, sản xuất thuốc giả, thuốc chữa bệnh giả và thực phẩm chức năng giả. Đây là vấn đề lớn, cần được quan tâm giải quyết bằng các giải pháp đồng bộ, hiệu quả.

Đại biểu đề nghị Chính phủ đánh giá kỹ 15 năm thi hành Luật An toàn thực phẩm, làm rõ những hạn chế xuất phát từ quy định pháp luật và những bất cập do tổ chức thực hiện. Trên cơ sở đó, xác định rõ nội dung nào cần sửa đổi trong luật, nội dung nào cần chấn chỉnh trong công tác tổ chức thi hành.
Bên cạnh đó, đại biểu cho rằng cần cân nhắc việc chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Với những lĩnh vực có nhiều vi phạm xảy ra trên thực tế, cần nghiên cứu khả năng áp dụng trở lại một số biện pháp tiền kiểm phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.
Đối với các nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết, đại biểu đề nghị cụ thể hóa hơn nữa những chính sách lớn ngay trong luật. Dự thảo có 74 điều, trong đó 32 điều giao Chính phủ quy định. Một số nội dung được xác định là đột phá, như lộ trình áp dụng thực hành vệ sinh tốt và hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tiên tiến tại khoản 3 Điều 23, khoản 1 Điều 33; lộ trình thực hiện phân tích nguy cơ về an toàn thực phẩm tại Điều 53; chuyển đổi phương thức kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu tại khoản 2 Điều 48, vẫn được giao quy định chi tiết.

Theo đại biểu, cách quy định này có thể dẫn đến tình trạng Quốc hội thông qua chính sách nhưng chưa xác định rõ nội dung cụ thể của chính sách. Vì vậy, cần nghiên cứu quy định rõ hơn trong luật để bảo đảm tính minh bạch và khả năng giám sát thực hiện.
Về cơ quan đầu mối quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, đại biểu cơ bản đồng tình với định hướng xác định một cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm, tránh tình trạng nhiều bộ, ngành cùng chịu trách nhiệm đối với một sản phẩm thực phẩm. Đồng thời, đề nghị tiếp tục rà soát, làm rõ trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan quản lý.
Cho ý kiến vào Điều 9 về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm và Điều 10 về trách nhiệm của đơn vị cung cấp suất ăn, tổ chức bếp ăn tập thể không vì mục đích kinh doanh, đại biểu Lê Thị Nga đề nghị rà soát, bổ sung các quy định còn chưa rõ.
Cụ thể, tại Điều 9, cần bổ sung trách nhiệm công khai thông tin cần thiết về nguồn gốc nguyên liệu. Tại Điều 10, cần làm rõ trách nhiệm của đơn vị cung cấp suất ăn, đơn vị tổ chức bếp ăn và người đứng đầu cơ sở trong việc tiếp nhận, xử lý phản ánh thuộc thẩm quyền; phối hợp với cơ quan chức năng khi phát hiện nguy cơ hoặc dấu hiệu vi phạm; truy xuất nguồn gốc sản phẩm khi có dấu hiệu bất thường.
Hoàn thiện hệ thống thông tin, dữ liệu an toàn thực phẩm
Quan tâm đến các quy định về dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm, ĐBQH Nguyễn Thị Bích Đào (Ninh Bình) đề nghị làm rõ các loại dữ liệu cần cập nhật trong suốt vòng đời sản phẩm, bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc đến từng lô hàng, phục vụ công tác thu hồi sản phẩm, cảnh báo nguy cơ và xử lý kịp thời các sự cố về an toàn thực phẩm. Theo đại biểu, hệ thống dữ liệu cần hỗ trợ việc phát hiện, truy xuất và cảnh báo nguy cơ, đồng thời bảo đảm yêu cầu bảo mật thông tin, bí mật kinh doanh và dữ liệu cá nhân theo quy định.

Đại biểu nhấn mạnh sự cần thiết của việc kết nối, cập nhật và khai thác dữ liệu kịp thời, qua đó nâng cao hiệu quả truy xuất nguồn gốc, thu hồi sản phẩm và cảnh báo người tiêu dùng.
Về trách nhiệm lưu trữ hồ sơ và cập nhật dữ liệu, đại biểu đề nghị phân định rõ nghĩa vụ lưu trữ hồ sơ của cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm với trách nhiệm cập nhật thông tin trên hệ thống dữ liệu. Các yêu cầu về dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống” cần được cụ thể hóa, bảo đảm thông tin chính xác, đầy đủ, thống nhất và được cập nhật kịp thời.
Bên cạnh đó, đại biểu cho rằng, cần quy định phù hợp với quy mô, điều kiện hoạt động của từng nhóm cơ sở, nhất là các cơ sở kinh doanh nhỏ, tránh phát sinh thêm thủ tục, chi phí tuân thủ không cần thiết. Đồng thời, không yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có hoặc có thể khai thác từ các hệ thống dữ liệu liên quan.

Tại phiên thảo luận, các đại biểu cũng tán thành việc xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu an toàn thực phẩm, tăng cường thu thập, cung cấp, kết nối và chia sẻ dữ liệu, ứng dụng công nghệ nhằm bảo đảm minh bạch thông tin và truy xuất nguồn gốc. Song, đề nghị quy định phù hợp với từng nhóm đối tượng, bảo đảm tính khả thi khi triển khai, tránh gây khó khăn cho các hộ sản xuất. Đồng thời, cần làm rõ phạm vi thông tin về vòng đời sản phẩm để tránh lộ bí mật kinh doanh, công thức sản phẩm.
Bảo đảm quyền lợi của các chủ thể sở hữu trí tuệ
Cũng tại Tổ 9, một số đại biểu đóng góp ý kiến vào dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Các ý kiến đề nghị tiếp tục đánh giá việc thi hành Luật, bảo đảm quy định sửa đổi phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Cho ý kiến về quy định bảo đảm quyền lợi trong giao dịch nhãn hiệu, ĐBQH Trần Thị Hồng Thanh (Ninh Bình) đề nghị xác định rõ thời hạn cơ quan quản lý thực hiện việc tách và cấp văn bằng bảo hộ mới khi chuyển nhượng một phần quyền đối với nhãn hiệu, tránh kéo dài thời gian xử lý. Đồng thời, kiến nghị làm rõ quyền của bên nhận quyền khi phát sinh tranh chấp liên quan đến hiệu lực của hợp đồng sử dụng nhãn hiệu đối với bên thứ ba, nhất là khả năng độc lập yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi mà không cần sự ủy quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu.

Đối với hoạt động giám định sở hữu trí tuệ, đại biểu đề nghị quy định cụ thể tiêu chuẩn năng lực chuyên môn tối thiểu, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân giám định, nguyên tắc thực hiện và chế tài xử lý vi phạm, qua đó bảo đảm tính khách quan và chất lượng chuyên môn.
Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan đến giống cây trồng, đại biểu kiến nghị bổ sung quy định chuyển tiếp khi mở rộng quyền của chủ bằng bảo hộ, bảo đảm các quyền lợi và khoản đầu tư đã hình thành trước ngày Luật có hiệu lực. Đồng thời, cần xác định rõ điều kiện, thời hạn chuyển tiếp đối với hoạt động sản xuất, khai thác giống cây trồng đang được thực hiện.
Một nội dung khác được các đại biểu quan tâm là phân cấp thủ tục hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Theo đó, cần tiếp tục sơ kết, đánh giá tính khả thi, xác định rõ những thủ tục phù hợp để giao địa phương thực hiện và những thủ tục cần tập trung tại cơ quan chuyên môn trung ương. Cùng với đó, tăng cường hướng dẫn nghiệp vụ, chia sẻ dữ liệu và hỗ trợ chuyên môn giữa các cấp, bảo đảm giải quyết hồ sơ thống nhất, giảm thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp.