Ý kiến đại biểu

Không nên quy định cứng thẻ văn hóa quốc gia trong Luật

Diệp Anh; ảnh: Khánh Duy • 24/10/2026 21:04

Góp ý tại Tổ 10 (Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An và Đồng Tháp) chiều 24/10 về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, ĐBQH Phan Anh Sơn (Nghệ An) đề nghị làm rõ mục tiêu, đối tượng thụ hưởng và khả năng cân đối ngân sách của chính sách hỗ trợ tiêu dùng văn hóa; không quy định cứng thẻ văn hóa quốc gia trong Luật mà giao Chính phủ quy định, đồng thời nghiên cứu tận dụng nền tảng định danh điện tử hiện có và triển khai thí điểm.

Làm rõ nội hàm hoạt động công nghiệp văn hóa

Nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, ĐBQH Phan Anh Sơn cho rằng, việc xây dựng Luật sẽ góp phần kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 80 về phát triển văn hóa Việt Nam; khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực mới cho phát triển đất nước. Đại biểu đồng tình với cách tiếp cận của dự thảo, nhất là mục tiêu gia tăng hàm lượng văn hóa trong sản phẩm, dịch vụ; bảo vệ thị trường nội địa; khắc phục những khoảng trống, điểm nghẽn pháp lý và thực hiện các cam kết quốc tế.

259a9261.jpg
ĐBQH Phan Anh Sơn (Nghệ An) phát biểu

Góp ý Điều 2 về giải thích từ ngữ, đại biểu đề nghị rà soát các thuật ngữ “chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa”, “hoạt động công nghiệp văn hóa”, “hoạt động hỗ trợ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa” và “nhân lực công nghiệp văn hóa”... Theo đại biểu, dự thảo giải thích “hoạt động công nghiệp văn hóa” là hoạt động nằm trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa hoặc hoạt động hỗ trợ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. Cách giải thích mang tính dẫn chiếu này chưa làm rõ bản chất, đặc trưng của hoạt động công nghiệp văn hóa so với các hoạt động kinh tế, xã hội, sáng tạo hay khoa học, công nghệ khác.

Trong khi đó, nội hàm “chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa” tại khoản 4 Điều 2 đã bao gồm các công đoạn sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu dùng và tái đầu tư trong ngành công nghiệp văn hóa, gần với bản chất của hoạt động công nghiệp văn hóa hơn. Vì vậy, đại biểu cho rằng không cần thiết giải thích riêng thuật ngữ “chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa”.

Đại biểu phân tích, nếu kết hợp cách giải thích tại khoản 5 và khoản 6 Điều 2, hoạt động cung cấp vốn, dịch vụ tài chính cũng có thể được hiểu là hoạt động công nghiệp văn hóa. Khi tiếp tục đối chiếu khoản 5 với khoản 14 về nhân lực công nghiệp văn hóa, những người làm công việc như cán bộ tín dụng, cung cấp dịch vụ tài chính cũng có thể được xác định là nhân lực công nghiệp văn hóa. Theo đại biểu, cách hiểu này khó phù hợp với bản chất của lĩnh vực được điều chỉnh.

Từ đó, đại biểu Phan Anh Sơn kiến nghị giải thích độc lập hai thuật ngữ “hoạt động công nghiệp văn hóa” và “hoạt động hỗ trợ công nghiệp văn hóa”, không gắn với khái niệm chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. Trong đó, “hoạt động công nghiệp văn hóa” được xác định là hoạt động sáng tạo, sản xuất, phân phối, kinh doanh, khai thác, tái đầu tư sản phẩm, dịch vụ trong các ngành công nghiệp văn hóa theo quy định của Luật.

Làm rõ mục tiêu chính sách trước khi lựa chọn công cụ hỗ trợ

Góp ý chính sách hỗ trợ, thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm công nghiệp văn hóa tại Điều 28, đại biểu Phan Anh Sơn ủng hộ chủ trương Nhà nước hỗ trợ người dân, nhất là các nhóm đối tượng chính sách, thụ hưởng sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cân nhắc việc sử dụng thẻ văn hóa quốc gia làm công cụ thực hiện và quy định trực tiếp công cụ này trong Luật.

Theo đại biểu, trước hết cần xác định rõ mục tiêu của chính sách. Nếu nhằm nâng cao khả năng thụ hưởng văn hóa của các nhóm cần ưu tiên như người có công, học sinh, sinh viên, người cao tuổi, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật và đối tượng trợ giúp xã hội, tên gọi “thẻ văn hóa quốc gia” chưa phản ánh đầy đủ tính chất của chính sách. Trong trường hợp này, tên gọi “thẻ phúc lợi văn hóa” sẽ phù hợp hơn với mục đích hỗ trợ các nhóm đối tượng cụ thể.

259a9131.jpg
Các ĐBQH tỉnh Nghệ An dự thảo luận tổ

Ngược lại, nếu chính sách nhằm kích cầu tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ văn hóa để phát triển thị trường thì cần có tính phổ quát, áp dụng trên diện rộng. Khi đó, phải đánh giá kỹ tác động, nhất là khả năng bảo đảm nguồn lực ngân sách để chính sách có tính khả thi. Vì vậy, vấn đề mấu chốt là làm rõ mục tiêu tác động của chính sách trước khi quyết định tên gọi và phương thức triển khai phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Đại biểu cũng đặt vấn đề có thực sự cần phát hành thêm một loại thẻ riêng để thực hiện chính sách hỗ trợ tiêu dùng văn hóa hay không. Trong bối cảnh chuyển đổi số, Việt Nam đã vận hành nền tảng định danh điện tử VNeID cùng các công cụ nhận diện đối tượng như căn cước công dân, thẻ sinh viên, giấy chứng nhận khuyết tật. Theo đại biểu, có thể nghiên cứu lồng ghép chính sách hỗ trợ văn hóa thông qua các nền tảng, công cụ hiện có thay vì phát hành thêm thẻ mới, vừa tiết kiệm chi phí, vừa tạo điều kiện tích hợp chính sách ưu đãi của Trung ương và địa phương theo quy định tại khoản 7 Điều 28 của dự thảo.

Đối với khoản 4 Điều 28, đại biểu đề nghị xem xét lại cách xác định các sản phẩm công nghiệp văn hóa được hỗ trợ tiêu dùng. Những nhóm sản phẩm được nêu trong dự thảo như sản phẩm có bản sắc văn hóa, sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm, sản phẩm phục vụ giáo dục, nâng cao khả năng tiếp cận, sáng tạo và thụ hưởng văn hóa của người dân chưa thực sự rõ ràng, hợp lý. Thay vì liệt kê các nhóm sản phẩm ngay trong Luật, đại biểu đề nghị thiết kế nguyên tắc và hệ tiêu chí lựa chọn sản phẩm, dịch vụ được hỗ trợ phù hợp với mục tiêu tác động của chính sách.

259a9218.jpg
Toàn cảnh phiên thảo luận Tổ 10

Từ những phân tích trên, ĐBQH Phan Anh Sơn kiến nghị chỉnh lý Điều 28 theo hướng tập trung quy định các nguyên tắc nền tảng về hỗ trợ tiêu dùng, kích cầu thị trường sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa; không quy định ngay công cụ thẻ văn hóa quốc gia trong Luật mà giao Chính phủ quy định để bảo đảm tính linh hoạt trong lựa chọn công cụ thực hiện, đồng thời nghiên cứu triển khai thí điểm chính sách.

Theo đó, Nhà nước có chính sách hỗ trợ, khuyến khích tiêu dùng, tiếp cận và thụ hưởng sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa phù hợp với mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa và khả năng cân đối ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ; khuyến khích chính quyền địa phương bổ sung chính sách phù hợp với điều kiện thực tế.

Chính sách cần ưu tiên trẻ em, học sinh, sinh viên, người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật và các đối tượng gặp khó khăn trong tiếp cận văn hóa... Đại biểu đề nghị giao Chính phủ quy định cụ thể đối tượng, điều kiện, mức hỗ trợ và danh mục sản phẩm, dịch vụ được hỗ trợ.

Diệp Anh; ảnh: Khánh Duy