Thời sự Quốc hội

Khơi thông nguồn lực, phát huy lợi thế văn hóa của từng địa phương

Phi Long • 24/10/2026 18:29

Thảo luận tại Tổ 1 (Hà Nội) về dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, các ĐBQH thành phố Hà Nội đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện chính sách về phân ngành, nhân lực, hạ tầng và thị trường; đồng thời bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, phát huy lợi thế văn hóa của từng địa phương và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư.

Phát triển công nghiệp văn hóa cần gắn với thực tiễn cơ sở

Góp ý dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, ĐBQH Nguyễn Hoàng Trường cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW và cụ thể hóa quyền tiếp cận, hưởng thụ các giá trị văn hóa theo Điều 41 Hiến pháp. Tuy nhiên, từ thực tiễn tại các phường, xã, đại biểu cho rằng khoản 2 Điều 2 của dự thảo còn liệt kê các phân ngành chưa có sự phân định rõ giữa công nghiệp sáng tạo nội dung văn hóa như điện ảnh, phần mềm số, âm nhạc với công nghiệp văn hóa ứng dụng, thực hành dịch vụ như du lịch văn hóa, ẩm thực, thủ công mỹ nghệ làng nghề. Điều này có thể gây khó khăn cho cấp xã trong rà soát, thống kê đối tượng thụ hưởng chính sách.

2aobor7kiaeqbuuux4wlyk12kischcljekmub6da.jpg
ĐBQH Nguyễn Hoàng Trường (Hà Nội) phát biểu thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Xuân Quý

Đại biểu đề nghị phân nhóm rõ danh mục ngành công nghiệp văn hóa, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết việc phân loại theo từng thời kỳ, phục vụ công tác quản lý, phân cấp và áp dụng chính sách ưu đãi.

Đối với phạm vi áp dụng tại khoản 2 Điều 1, cần quy định cụ thể hơn đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động tại Việt Nam, cung cấp sản phẩm, dịch vụ vào thị trường Việt Nam hoặc có liên quan đến công nghiệp văn hóa Việt Nam, tránh khoảng trống pháp lý trong quản lý các hoạt động xuyên biên giới.

Về tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đại biểu đồng tình với việc quy định các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 7 nhằm ngăn chặn trục lợi chính sách và bảo vệ bản sắc văn hóa quốc gia. Tuy nhiên, tiêu chí xác định sản phẩm công nghiệp văn hóa có bản sắc Việt Nam tại Điều 23 cần được rà soát để tránh xung đột với nguyên tắc đối xử quốc gia trong các hiệp định thương mại mà Việt Nam là thành viên.

Theo đại biểu, việc nhấn mạnh quá mức tỷ lệ tham gia của nhân lực Việt Nam hoặc công nghệ thực hiện tại Việt Nam có thể gây bất lợi cho những cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm văn hóa có hợp tác, chuyển giao kỹ thuật hoặc góp vốn từ đối tác nước ngoài.

Do đó, cần chuyển trọng tâm sang đánh giá mức độ đóng góp của hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, cải tiến và sản xuất gắn với giá trị, tri thức văn hóa được thực hiện tại Việt Nam, bảo đảm phù hợp với các điều ước quốc tế.

Đại biểu cũng đề nghị bổ sung quy định nghiêm cấm việc sử dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ số để sao chép, giả mạo giọng nói, hình ảnh biểu diễn, phong cách tác phẩm hoặc khai thác trái phép tri thức văn hóa dân gian, di sản văn hóa phi vật thể khi chưa được chủ thể sáng tạo hoặc cộng đồng nắm giữ di sản đồng ý.

Tăng cường phân cấp, phát huy vai trò của chính quyền cơ sở

Về chính sách nhân lực, hạ tầng và thị trường, ĐBQH Nguyễn Hoàng Trường đồng tình với việc công nhận nghệ nhân nhân dân, nghệ sĩ ưu tú đáp ứng tiêu chuẩn tham gia giảng dạy. Tuy nhiên, tại cơ sở, hoạt động truyền dạy di sản như ca trù, chèo, hát then, cồng chiêng và nghề cổ truyền còn dựa nhiều vào nghệ nhân dân gian chưa có danh hiệu nhà nước, người cao tuổi và người có uy tín trong cộng đồng. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung đối tượng là người thực hành, truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể tại cộng đồng, được UBND cấp xã xác nhận, vào diện được hưởng thù lao thỏa thuận khi tham gia truyền dạy tại các thiết chế văn hóa cơ sở và trường học.

Đối với việc sử dụng không gian công cộng theo Điều 20, dự thảo hiện tập trung thẩm quyền tiếp nhận đăng ký tại UBND cấp tỉnh. Trong khi đó, nhu cầu tổ chức chợ đêm quy mô nhỏ, biểu diễn đường phố, trình diễn làng nghề tại sân sinh hoạt cộng đồng, công viên, phố đi bộ thường phát sinh trực tiếp ở địa bàn phường, xã.

Quang cảnh thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Xuân Quý
Quang cảnh thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Xuân Quý

Theo đại biểu, nếu thủ tục tập trung toàn bộ lên cấp tỉnh sẽ làm tăng gánh nặng hành chính, hạn chế tính chủ động của chính quyền cơ sở trong bảo đảm trật tự, vệ sinh môi trường và an ninh tại địa bàn. Đại biểu đề nghị quy định UBND cấp tỉnh ban hành quy chế phân cấp cho UBND cấp xã tiếp nhận đăng ký, xử lý thông báo và giám sát việc sử dụng không gian công cộng đối với các hoạt động, sự kiện văn hóa nghệ thuật quy mô nhỏ trên địa bàn.

ĐBQH Nguyễn Hoàng Trường thống nhất với chủ trương phát huy vai trò của các địa phương là thành viên Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO, trong đó có Hà Nội. Theo đại biểu, với mật độ di sản lớn và hàng trăm không gian sáng tạo, tổ hợp văn hóa, việc triển khai Luật tại Thủ đô cần gắn kết chặt chẽ với các cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô.

Thực tế, nhiều phường nội thành đang đứng trước yêu cầu khai thác quỹ đất và các nhà máy, cơ sở công nghiệp cũ sau di dời. Dự thảo đã cho phép chuyển đổi nhà máy cũ thành tổ hợp sáng tạo văn hóa, nhưng chưa giải quyết triệt để những vướng mắc về đất đai, tài sản công, quy trình đấu thầu, định giá và liên doanh, liên kết tại cơ sở.

Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung quy định cho phép việc cải tạo, chuyển đổi công năng các công trình công nghiệp dôi dư, di dời thành tổ hợp sáng tạo văn hóa tại đô thị đặc biệt được áp dụng cơ chế đặc thù về quy hoạch, đất đai theo Luật Thủ đô và pháp luật về phát triển đô thị.

Đối với mô hình kinh tế đêm và phố đi bộ tại Hà Nội, đại biểu cho rằng việc sử dụng lòng đường, vỉa hè phục vụ hoạt động công nghiệp văn hóa còn gặp vướng mắc do yêu cầu bảo đảm trật tự, an toàn giao thông. Do đó, cần bổ sung nguyên tắc sử dụng tạm thời không gian công cộng, lòng đường, vỉa hè để phát triển kinh tế đêm và tuyến phố đi bộ theo quy chế do HĐND thành phố trực thuộc Trung ương ban hành, bảo đảm an toàn giao thông, trật tự xã hội và quyền chủ động quản lý của chính quyền cơ sở.

Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với bảo vệ giá trị văn hóa truyền thống

Góp ý về chính sách phát triển công nghiệp văn hóa tại Điều 4, ĐBQH Lê Nhật Thành cho rằng dự thảo chưa thể hiện rõ định hướng ưu tiên theo tiềm năng, lợi thế của từng vùng, địa bàn. Do đó, cần ưu tiên đầu tư, hỗ trợ những nơi có lợi thế về tài nguyên văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, bản sắc văn hóa dân tộc và khả năng liên kết với du lịch, tránh đầu tư dàn trải.

ĐBQH Lê Nhật Thành (Hà Nội) phát biểu thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Văn Tuyến
ĐBQH Lê Nhật Thành (Hà Nội) phát biểu thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Văn Tuyến

Về các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 7, đại biểu đề nghị bổ sung quy định cấm khai thác, sử dụng trái pháp luật hoặc làm sai lệch, giả mạo nguồn gốc di sản văn hóa, tri thức truyền thống, biểu đạt văn hóa truyền thống của cộng đồng trong hoạt động công nghiệp văn hóa.

Đối với tiêu chí xác định sản phẩm công nghiệp văn hóa có bản sắc văn hóa Việt Nam tại Điều 23, đại biểu đề nghị bổ sung yêu cầu xem xét nguồn gốc, tính xác thực của giá trị văn hóa được khai thác, mức độ phù hợp với bản sắc văn hóa và sự tham gia của cộng đồng, nghệ nhân, người thực hành văn hóa có liên quan, nhất là đối với sản phẩm khai thác trực tiếp giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số.

Về sàn giao dịch công nghiệp văn hóa tại Điều 27, ĐBQH Lê Nhật Thành nhận thấy dự thảo chưa quy định rõ trách nhiệm chứng minh nguồn gốc và căn cứ thực hiện quyền đối với sản phẩm, quyền tài sản có sử dụng di sản văn hóa, tri thức truyền thống hoặc biểu đạt văn hóa truyền thống của cộng đồng. Đại biểu đề nghị yêu cầu chủ thể đưa sản phẩm lên sàn cung cấp thông tin về nguồn gốc, căn cứ thực hiện quyền khai thác, sử dụng và chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của giao dịch.

Đối với chính sách hỗ trợ phát triển thị trường tại Điều 28, đại biểu cho rằng dự thảo chưa có chính sách cụ thể dành cho người dân, cộng đồng dân tộc thiểu số trong phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa gắn với bản sắc văn hóa của cộng đồng. Trong khi đó, dự thảo đã xác định sản phẩm góp phần nâng cao khả năng tiếp cận văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những nhóm sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm.

Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển thị trường đối với các sản phẩm do người dân, cộng đồng dân tộc thiểu số và các chủ thể liên quan sáng tạo, sản xuất, khai thác, phát huy những giá trị văn hóa đặc trưng, bản sắc của cộng đồng trong tổng thể bản sắc văn hóa Việt Nam.

Phát triển nhân lực chất lượng cao, tạo nền tảng cho công nghiệp văn hóa

Góp ý dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, ĐBQH Dương Minh Ánh nhấn mạnh nhân lực sáng tạo là yếu tố cốt lõi để phát triển lĩnh vực này bền vững. Đại biểu đề nghị rà soát tính thống nhất của các quy định về đào tạo, thu hút nhân lực chất lượng cao, đầu tư hạ tầng và bố trí không gian văn hóa, bảo đảm chính sách khả thi, tránh chồng chéo và lãng phí nguồn lực.

2aobor7kiaxbjhls5bvll96wojpyir1nahor2ct2.jpg
ĐBQH Dương Minh Ánh (Hà Nội) phát biểu thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Xuân Quý

Đại biểu đề nghị rà soát quy định về danh mục ngành, nghề đào tạo chuyên sâu để bảo đảm thống nhất với Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục nghề nghiệp. Việc sử dụng nghệ sĩ, nghệ nhân tham gia giảng dạy cũng cần phù hợp với quy định về văn bằng, trình độ chuyên môn và điều kiện giảng dạy, không đồng nhất danh hiệu nghệ thuật với trình độ học vấn.

Đối với chính sách thù lao cho nghệ sĩ, nghệ nhân giảng dạy, học bổng, miễn học phí và hỗ trợ người học, đại biểu đề nghị đánh giá cụ thể tác động ngân sách, xác định rõ nguồn kinh phí và đối tượng thụ hưởng, phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế công nhận nghệ sĩ, nghệ nhân đủ điều kiện làm giảng viên thỉnh giảng, tính đến yêu cầu đào tạo các ngành nghề mới, liên ngành; rà soát, sửa đổi đồng bộ các luật liên quan.

Để nâng cao chất lượng nhân lực, đại biểu đề nghị có cơ chế thu hút chuyên gia quốc tế, người Việt Nam ở nước ngoài thông qua chính sách linh hoạt về thị thực, giấy phép lao động và đãi ngộ. Cùng với đó, tiếp tục triển khai chương trình đào tạo tài năng ở nước ngoài, phát triển mô hình đào tạo liên ngành, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp; nghiên cứu khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo.

Về hạ tầng, cần đầu tư có trọng điểm cho các cơ sở đào tạo công nghiệp văn hóa, ưu tiên không gian thực hành, sân khấu, trường quay, phần mềm bản quyền và công cụ thiết kế số. Đại biểu cũng đề nghị nghiên cứu cơ chế bảo vệ, chia sẻ quyền sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm sáng tạo của học sinh, sinh viên.

Liên quan đến Điều 21, đại biểu cho rằng việc bố trí không gian giới thiệu, trưng bày, trình diễn sản phẩm công nghiệp văn hóa có thể giúp người dân tiếp cận các giá trị văn hóa. Tuy nhiên, nếu áp dụng bắt buộc với mọi loại công trình, quy định có thể làm tăng chi phí đầu tư và giá thành, đồng thời gây khó khăn trong xác định giá trị sản phẩm văn hóa.

Do đó, đại biểu đề nghị cân nhắc áp dụng yêu cầu này đối với công trình công cộng; với công trình thương mại, nhà chung cư và công trình hỗn hợp có chức năng ở, nên để doanh nghiệp chủ động quyết định theo định hướng phát triển và nhu cầu thị trường.

Đại biểu nhấn mạnh dự thảo Luật còn nhiều khái niệm, chính sách mới, một số nội dung chưa được đánh giá tác động đầy đủ và còn ý kiến khác nhau, trong đó có quy định tại Điều 37 về sửa đổi, bổ sung các luật liên quan. Vì vậy, cần tiếp tục xem xét kỹ lưỡng, cho ý kiến tại hai kỳ họp và thông qua dự án Luật tại kỳ họp thứ ba nhằm bảo đảm chất lượng khi ban hành.

Phi Long