Diễn đàn Nhân văn Mùa thu Hà Nội 2026: Đưa tri thức nhân văn vào kiến tạo giá trị phát triển
Diễn đàn Nhân văn Mùa thu Hà Nội 2026 mở rộng đối thoại giữa các nhà khoa học trong nước và quốc tế về vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong thời đại trí tuệ nhân tạo, đồng thời hướng tới chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành chính sách và giải pháp phát triển.
Sáng 24/10, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) tổ chức chương trình “Đối thoại khoa học quốc tế: Khoa học Xã hội và Nhân văn trong thời đại trí tuệ nhân tạo và hội nhập quốc tế”. Đây là hoạt động trọng tâm trong khuôn khổ Diễn đàn Nhân văn Mùa thu Hà Nội 2026, diễn ra từ ngày 21 đến 28/10.
Diễn đàn gồm 21 hội thảo, tọa đàm và thảo luận bàn tròn, thu hút khoảng 1.300 học giả, trong đó có 250 diễn giả quốc tế. Các chủ đề trải rộng từ văn hóa, lịch sử, chính trị, quan hệ quốc tế, giáo dục, ngôn ngữ, truyền thông đến công nghệ.

Không chỉ là nơi chia sẻ kết quả nghiên cứu, Diễn đàn hướng tới kết nối tri thức liên ngành, tăng cường hợp tác quốc tế và làm rõ khả năng đóng góp của khoa học xã hội và nhân văn vào hoạch định chính sách, phát triển văn hóa, giáo dục và giải quyết các vấn đề xã hội.

Khoa học xã hội và nhân văn phải tham gia kiến tạo tương lai
Phát biểu tại Diễn đàn, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương cho biết: “Đất nước đang đứng trước những cơ hội lớn cùng nhiều thách thức mới. Nghị quyết số 57-NQ/TW thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết số 59-NQ/TW mở rộng tầm nhìn hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 60-NQ/TW đặt ra yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy; Nghị quyết số 71-NQ/TW nhấn mạnh đột phá giáo dục và đào tạo.
Cùng với đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 18-NQ/TW về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển khẳng định một tinh thần xuyên suốt: phát triển phải hướng đến con người, chăm lo chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của Nhân dân.
Đặc biệt, Nghị quyết số 25-NQ/TW về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới yêu cầu đổi mới nghiên cứu, dự báo và nắm bắt đời sống tinh thần xã hội. Công tác tư tưởng cần đi trước mở đường, đồng hành trong tổ chức thực hiện và biết tổng kết từ thực tiễn. Muốn vậy, phải có những luận cứ khoa học nghiêm túc và biết lắng nghe xã hội bằng cả dữ liệu lẫn sự thấu hiểu con người.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh: công nghệ có thể giúp một quốc gia phát triển nhanh hơn, nhưng văn hóa, đạo đức và niềm tin mới làm cho sự phát triển ấy có chiều sâu. Trí tuệ nhân tạo có thể xử lý dữ liệu, nhưng không thay con người lựa chọn sự công bằng, lòng nhân ái hay trách nhiệm với những người dễ bị bỏ lại phía sau. Một xã hội không chỉ cần thông minh hơn, mà còn phải nhân văn hơn.
Ông Sơn cho rằng, khoa học xã hội và nhân văn phải đi xa hơn việc giải thích những điều đã xảy ra: chủ động dự báo biến đổi, cảnh báo rủi ro và góp phần tìm điểm tựa giá trị cho tương lai. Từ đạo đức công nghệ, văn hóa số đến gia đình, giáo dục, niềm tin xã hội, rất cần những nghiên cứu liên ngành có trách nhiệm.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, trong thời đại hôm nay, trí tuệ nhân tạo có thể giúp chúng ta trả lời ngày càng nhiều câu hỏi. Nhưng máy móc không thể thay con người quyết định xã hội phải phát triển vì điều gì, điều gì làm nên phẩm giá con người, và những giá trị nào cần được gìn giữ.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn chia sẻ ba kỳ vọng đối với Nhà trường. Cụ thể:
Trước hết, hãy làm cho nghiên cứu gần hơn với những vấn đề lớn của đất nước và những điều thiết thân của người dân. Mỗi đề tài cần tự hỏi: phát hiện này giúp chúng ta hiểu đúng hơn điều gì, quyết định tốt hơn việc gì, cải thiện cuộc sống của ai? Khoa học có giá trị khi tôn trọng sự thật, có sức thuyết phục và dám chạm vào những vấn đề khó.
Thứ hai, hãy tạo sức mạnh từ nghiên cứu liên ngành. Thực tiễn không chia thành từng ngăn như giáo trình. Trí tuệ nhân tạo cũng là vấn đề đạo đức, luật pháp, văn hóa và giáo dục; câu chuyện gia đình cũng gắn với kinh tế, truyền thông và an sinh xã hội. Nhà trường phát triển nhóm nghiên cứu mạnh, kết hợp nghiên cứu cơ bản với khảo sát thực tế, khai thác dữ liệu và phân tích chính sách, luôn giữ bản lĩnh, sự trung thực của người làm khoa học.
Thứ ba, hãy xây chiếc cầu bền chặt hơn giữa giảng đường, cơ quan tham mưu chính sách và đời sống. “Một công trình không nên dừng lại khi được nghiệm thu; nó cần tiếp tục bằng kiến nghị rõ ràng, giải pháp khả thi và những chuyển biến thực chất. Các bạn sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh không chỉ học để biết nhiều hơn, mà còn biết lắng nghe, đặt câu hỏi đúng và nhận trách nhiệm trước những vấn đề của cộng đồng”, ông Sơn nhấn mạnh.

Đại học Quốc gia Hà Nội đặt trọng tâm vào Việt Nam học và sức mạnh mềm văn hóa
Tại Diễn đàn, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) Bùi Thế Duy cho biết, Đại học Quốc gia Hà Nội định hướng trở thành trung tâm hàng đầu thế giới về Việt Nam học, gắn nghiên cứu Việt Nam với đổi mới mô hình phát triển và phát huy sức mạnh mềm quốc gia.
Những định hướng này đặt Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn vào vị trí hạt nhân trong nghiên cứu, đào tạo, tư vấn chính sách và lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam.
Giám đốc ĐHQGHN đề nghị Nhà trường phát huy thế mạnh học thuật, tiên phong trong nghiên cứu liên ngành, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh và tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu số trong nghiên cứu.

Theo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, AI và hội nhập quốc tế mở ra cơ hội mở rộng hợp tác, đổi mới phương pháp và nâng cao năng lực nghiên cứu, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu bảo vệ bản sắc, quyền riêng tư, tính xác thực của thông tin và các giá trị nhân văn.
Vì vậy, khoa học xã hội và nhân văn cần kết hợp chiều sâu học thuật truyền thống với phương pháp tiếp cận hiện đại, qua đó tạo ra những tri thức có khả năng giải thích, dự báo và đề xuất giải pháp cho các vấn đề phát triển.
Chuyển hóa tri thức thành giá trị phát triển
GS.TS Hoàng Anh Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cho rằng giá trị của Diễn đàn không nằm ở quy mô tổ chức, mà ở khả năng tạo ra tri thức mới và chuyển hóa tri thức thành giá trị phát triển.
Trong một thế giới thường nhấn mạnh tốc độ tăng trưởng, năng lực công nghệ và hiệu quả kinh tế, khoa học xã hội và nhân văn nhắc chúng ta rằng phát triển không thể chỉ được đo bằng những chỉ số vật chất. Phát triển còn là chất lượng sống, năng lực quản trị, sự gắn kết cộng đồng, sức sống văn hóa, công bằng xã hội và phẩm giá con người.

Theo GS.TS Hoàng Anh Tuấn, công nghệ có thể mở rộng năng lực hành động của con người, nhưng tri thức về con người và xã hội mới giúp xác định điều gì đáng làm, phục vụ ai và hướng tới tương lai nào.
Từ đó, Diễn đàn đặt mục tiêu đưa khoa học xã hội và nhân văn từ vị trí giải thích hiện tượng xã hội sang tham gia kiến tạo giải pháp. Các vấn đề như trí tuệ nhân tạo, di sản, giáo dục hay quản trị đều đòi hỏi cách tiếp cận liên ngành, bởi không một lĩnh vực riêng lẻ nào có thể giải quyết đầy đủ.
Bốn mục tiêu trọng tâm được xác định gồm phát triển tri thức mới, xây dựng mạng lưới hợp tác bền vững, kết nối nghiên cứu với chính sách và thực tiễn, đồng thời bồi dưỡng thế hệ học giả kế tiếp.
Hiệu trưởng Nhà trường cho rằng hiệu quả của Diễn đàn cần được đánh giá bằng những kết quả sau sự kiện: các công trình được công bố, nhóm nghiên cứu liên ngành được hình thành, chương trình hợp tác được triển khai và những khuyến nghị chính sách có khả năng áp dụng.
“Chúng ta cần hướng tới một nguyên tắc: mỗi cuộc đối thoại mở ra một hướng nghiên cứu; mỗi kết quả nghiên cứu tạo thêm một giá trị ứng dụng; mỗi mối quan hệ học thuật trở thành một khả năng hợp tác lâu dài”, GS.TS Hoàng Anh Tuấn nhấn mạnh.

Trong chương trình đối thoại ngày 24/10, các học giả tập trung vào ba nhóm vấn đề: AI, tri thức và nghiên cứu; con người, văn hóa và trách nhiệm; giáo dục, quản trị và hợp tác.
Nội dung thảo luận bao gồm ứng dụng AI trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu định tính, nhân văn số, lưu trữ số; đồng thời đề cập niềm tin đối với AI, tính xác thực của thông tin, bản sắc văn hóa, trách nhiệm học thuật, quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu.
Triển lãm Khoa học Xã hội và Nhân văn, diễn ra từ ngày 19 đến 29/10, giới thiệu bộ sách Tùng thư Khoa học Xã hội và Nhân văn cùng không gian “Cổ Kim Quán Bích”. Triển lãm trưng bày 12 tư liệu gồm 4 bức họa và 8 thác bản minh văn, hoa văn, bích họa, qua đó làm rõ vai trò của tư liệu gốc trong nghiên cứu và bảo tồn di sản.


