Rõ trách nhiệm, kiểm soát toàn chuỗi cung ứng thực phẩm
Thảo luận về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) tại Tổ 6 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh Hưng Yên và Tây Ninh) đề nghị làm rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong chuỗi cung ứng thực phẩm; tăng cường truy xuất nguồn gốc, kiểm soát bữa ăn học đường; đồng thời hoàn thiện thủ tục công bố sản phẩm theo hướng minh bạch, khả thi, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Chiều 24/10, Đoàn ĐBQH các tỉnh Hưng Yên và Tây Ninh thuộc Tổ 6 đã thảo luận về các dự án: Luật Phát triển công nghiệp văn hóa; Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.
Bảo đảm an toàn bữa ăn học đường
ĐBQH Nguyễn Thị Thanh Bình (Hưng Yên) tán thành việc sửa đổi toàn diện Luật An toàn thực phẩm, đồng thời đề nghị hoàn thiện các quy định theo hướng làm rõ trách nhiệm của từng chủ thể, tăng cường truy xuất nguồn gốc và kiểm soát thực phẩm xuyên suốt chuỗi cung ứng.

Đối với bữa ăn tập thể, đặc biệt là bữa ăn học đường, đại biểu đề nghị phân định rõ trách nhiệm giữa đơn vị tổ chức bữa ăn và nhà cung cấp suất ăn khi thuê ngoài. Các quy định cần xác định cụ thể trách nhiệm kiểm soát nguyên liệu, giao nhận, chế biến, vận chuyển, lưu mẫu và xử lý khi phát hiện dấu hiệu mất an toàn. Cùng với đó, cần bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về nhà cung cấp, tình hình an toàn bữa ăn và kết quả xử lý phản ánh, tạo điều kiện để phụ huynh tham gia giám sát.
Về kiểm soát thực phẩm tươi sống, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu truy xuất nguồn gốc từ khâu thu gom, giết mổ, phân phối đến kinh doanh tại chợ. Cần quy định rõ trách nhiệm của cơ sở kinh doanh trong xác định nguồn nhập, nơi giao hàng; kịp thời khoanh vùng, dừng phân phối và thu hồi khi phát hiện thịt bệnh. Đồng thời, tăng cường giám sát hoạt động kiểm soát giết mổ, xác nhận thú y, làm rõ trách nhiệm của đơn vị quản lý chợ và cơ quan chuyên môn trong phát hiện, xử lý vi phạm.
Đối với hóa chất, phụ gia thực phẩm, đại biểu đề nghị siết chặt quản lý từ khâu sản xuất, nhập khẩu, phối trộn, sang chiết đến kinh doanh và sử dụng; bảo đảm thông tin về nguồn gốc, lô hàng, hạn sử dụng và hướng dẫn sử dụng được duy trì đầy đủ. Các hộ chế biến nhỏ lẻ cần thực hiện yêu cầu về nguồn gốc và sử dụng phụ gia đúng quy định theo phương thức phù hợp với quy mô hoạt động.


Đại biểu cũng đề nghị ưu tiên kiểm tra, lấy mẫu tại các đầu mối có nguy cơ cao. Khi phát hiện phụ gia không an toàn, cần truy xuất các cơ sở đã tiếp nhận, ngăn chặn việc tiếp tục sử dụng và thu hồi thực phẩm liên quan.
Theo đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình, các quy định sửa đổi cần bảo đảm tính khả thi, xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, nâng cao hiệu quả kiểm soát trên toàn chuỗi cung ứng, qua đó chủ động ngăn chặn thực phẩm không an toàn từ nguồn, bảo vệ sức khỏe và quyền lợi của người dân.

Hoàn thiện thủ tục công bố sản phẩm
ĐBQH Lê Thị Song An (Tây Ninh) đề nghị làm rõ tiêu chí xác định khoảng cách an toàn giữa cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ với các nguồn gây độc hại, ô nhiễm. Theo đại biểu, một số quy định trong dự thảo còn mang tính định tính, chưa xác định cụ thể khoảng cách hoặc tiêu chí đánh giá mức độ an toàn.
Vì vậy, trường hợp chưa thể quy định cụ thể trong Luật, cần giao Chính phủ quy định chi tiết hoặc ban hành tiêu chí hướng dẫn áp dụng thống nhất, bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn.

Đối với thời hạn 5 năm và thủ tục gia hạn giấy đăng ký bản công bố sản phẩm, đại biểu đề nghị làm rõ căn cứ quy định thời hạn cũng như bản chất của thủ tục gia hạn. Nếu việc gia hạn chỉ nhằm cập nhật thông tin mà không thẩm định lại sản phẩm, cần cân nhắc sự cần thiết của thủ tục định kỳ, thay vào đó yêu cầu doanh nghiệp cập nhật khi có thay đổi về nội dung công bố.
Trường hợp gia hạn đồng nghĩa với thẩm định lại, cần đánh giá khối lượng hồ sơ phát sinh hàng năm, thời gian xử lý và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp. Đại biểu cũng lưu ý, dự thảo chưa quy định thời hạn tối đa để cơ quan có thẩm quyền giải quyết hồ sơ gia hạn, tiềm ẩn nguy cơ giấy đăng ký đã hết hạn nhưng việc xử lý chưa hoàn tất trong khoảng thời gian không xác định.
Do đó, cần quy định rõ thời hạn giải quyết và hậu quả pháp lý nếu cơ quan nhà nước không xử lý đúng hạn. Đối với sản phẩm không thay đổi và cơ sở có lịch sử tuân thủ tốt, đại biểu đề nghị cân nhắc cơ chế gia hạn đơn giản theo thông báo hoặc giảm thành phần hồ sơ, qua đó giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý an toàn thực phẩm.

Liên quan đến hoạt động kinh doanh thực phẩm trên môi trường số, ĐBQH Trần Hải Phú (Tây Ninh) đề nghị hoàn thiện quy định về trách nhiệm của nền tảng thương mại điện tử trong cảnh báo, hỗ trợ thu hồi thực phẩm không bảo đảm an toàn và truy xuất nguồn gốc. Đối với thực phẩm có nguy cơ cao, cần bổ sung yêu cầu lưu giữ thông tin về thời gian giao nhận, điều kiện bảo quản. Đồng thời, quy định rõ những thông tin tối thiểu về nhà cung cấp, nguyên liệu đối với cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ và thức ăn đường phố, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế.
Đại biểu cũng kiến nghị thiết lập cơ chế cảnh báo trực tiếp đến người đã đặt hàng thực phẩm trực tuyến khi xảy ra sự cố, hướng dẫn người tiêu dùng ngừng sử dụng sản phẩm có nguy cơ mất an toàn. Cơ chế này sẽ góp phần rút ngắn thời gian thông tin đến người mua, hỗ trợ xử lý sự cố và hạn chế nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

Đối với việc thu hồi sản phẩm vi phạm về ghi nhãn, đại biểu đề nghị căn cứ tính chất sai lỗi và mức độ nguy cơ đối với sức khỏe để xác định phạm vi thu hồi. Cần phân biệt trường hợp phải thu hồi với những sai sót có thể khắc phục, tránh áp dụng một cách cứng nhắc, đồng thời bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng và tính khả thi trong thực thi pháp luật.