Phát triển kinh tế biển phải gắn với nhiệm vụ phòng thủ quốc gia
Thảo luận tại Tổ 10 (Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An, Đồng Tháp) sáng 24/10 về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, các đại biểu đề nghị cụ thể hóa trách nhiệm của Chính phủ trong quy hoạch, sử dụng không gian biển gắn với nhiệm vụ phòng thủ quốc gia; đồng thời hoàn thiện quy định về quyền sử dụng khu vực biển, tăng cường giám sát ưu đãi đầu tư và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Quy hoạch không gian biển phải bảo đảm yêu cầu phòng thủ lâu dài
Góp ý dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), ĐBQH Nguyễn Sỹ Hội (Nghệ An) đề nghị làm rõ yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế biển với nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trong quy hoạch, quản lý và sử dụng không gian biển.
Theo đại biểu, mặc dù Điều 4 về chính sách của Nhà nước, Điều 6 về trách nhiệm quản lý nhà nước và Điều 19 về nguyên tắc sử dụng không gian biển đã đề cập yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, song các quy định còn mang tính khái quát, chưa làm rõ những yêu cầu đặc thù của hoạt động phòng thủ trên biển.

Từ thực tiễn, đại biểu dẫn chứng, một số khu vực đồi núi ven biển thuận lợi cho xây dựng hạ tầng hoặc phát triển du lịch nhưng đồng thời có ý nghĩa quan trọng đối với việc bố trí công trình phòng thủ. Hoạt động quân sự trên biển cũng có những đặc thù về không gian, thời gian, đòi hỏi phải được tính toán từ xa để vừa bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, vừa hạn chế những bất cập đối với hoạt động kinh tế.
Đại biểu đề nghị quy định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền của Chính phủ trong quy hoạch, quản lý, sử dụng không gian biển gắn với yêu cầu phòng thủ quốc gia, thay vì chỉ quy định chung hoặc giao cho cấp bộ, địa phương. Theo đại biểu, đây là vấn đề mang tính chiến lược quốc gia, có tác động đến phát triển kinh tế của các địa phương ven biển, cần được xem xét thống nhất, lâu dài.

Đại biểu kiến nghị bổ sung quy định cụ thể tại các điều liên quan nhằm làm rõ mối quan hệ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế, phòng thủ quốc gia và sử dụng lưỡng dụng không gian biển, bảo đảm sự đồng bộ trong tổ chức thực hiện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế gắn với bảo vệ Tổ quốc.
Cùng quan tâm đến yêu cầu quốc phòng trong quản lý vùng bờ, ĐBQH Lương Đình Hưng (Nghệ An) nhất trí cao với sự cần thiết sửa đổi, thay thế Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015. Đại biểu đánh giá, dự thảo đã bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật, tương thích với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên; cơ bản đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ Hai.

Góp ý Điều 50, Điều 51 và Điều 52 về vùng bờ, hành lang bảo vệ bờ biển và khoảng lùi xây dựng, đại biểu đề nghị cân nhắc bổ sung quy định lấy ý kiến Bộ Quốc phòng trước khi UBND cấp tỉnh thiết lập, điều chỉnh hành lang bảo vệ bờ biển, khoảng lùi xây dựng, bảo đảm không ảnh hưởng đến khu vực phòng thủ, công trình quốc phòng và khu quân sự.
Đồng thời, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, đối chiếu dự thảo với Luật Biển Việt Nam, Luật Quốc phòng, Luật Biên phòng Việt Nam, Luật Cảnh sát biển Việt Nam, Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự, Luật Phòng thủ dân sự, Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Đầu tư, Luật Quy hoạch, Luật Bảo vệ môi trường và Luật Xử lý vi phạm hành chính, nhằm tránh chồng chéo, mâu thuẫn, bảo đảm tính thống nhất và khả thi khi thực hiện.

Đánh giá dự thảo được chuẩn bị công phu, tiếp thu, chỉnh lý các ý kiến góp ý của các Đoàn ĐBQH và cơ quan thẩm tra trong dự thảo ngày 1/10/2026, ĐBQH Thái Thị An Chung (Nghệ An) đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định về giao, xác lập và ghi nhận quyền sử dụng khu vực biển, chính sách hỗ trợ cộng đồng dân cư ven biển và quản lý hoạt động trong vùng bờ.
Góp ý Điều 24, đại biểu đề nghị chuyển các điểm a, b, c khoản 1 sang Điều 3 về giải thích từ ngữ, bởi đây là những quy định mang tính giải thích khái niệm, thuật ngữ.
Đối với khoản 7 Điều 24, đại biểu cho rằng, quy định ưu tiên tiếp nhận, giải quyết hồ sơ hợp lệ của tổ chức, cá nhân nộp trước khi có từ hai chủ thể cùng đề nghị giao, cho thuê hoặc đăng ký sử dụng một khu vực biển không thuộc diện đấu giá, đấu thầu là chưa hợp lý. Trong bối cảnh tiếp nhận hồ sơ trực tuyến, việc phân định thứ tự nộp trước, nộp sau có thể gặp khó khăn khi nhiều hồ sơ được gửi đến cùng thời điểm.
Thay vì chỉ căn cứ vào thời điểm nộp hồ sơ, đại biểu đề nghị bổ sung tiêu chí lựa chọn tổ chức, cá nhân được giao, cho thuê hoặc đăng ký sử dụng khu vực biển. Theo đó, có thể nghiên cứu vận dụng các tiêu chí về hỗ trợ, ưu đãi tại Điều 40 và Điều 41 của dự thảo, như mục đích sử dụng khu vực biển, hiệu quả sử dụng và đối tượng ưu tiên, nhằm bảo đảm công bằng, hợp lý.

Liên quan đến Điều 47 về chính sách hỗ trợ cộng đồng dân cư ven biển phát triển các hoạt động kinh tế sử dụng không gian biển, đại biểu cho rằng, dự thảo chưa xác định rõ một số đối tượng thụ hưởng. Khái niệm “doanh nghiệp cộng đồng” chưa được quy định trong pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư; còn khái niệm “tổ chức kinh tế của cộng đồng dân cư ven biển” chưa làm rõ mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư với tổ chức kinh tế về sở hữu, quản lý hoặc mục tiêu hoạt động.
Đại biểu đề nghị xác định cụ thể đối tượng được hỗ trợ gồm cộng đồng dân cư ven biển, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác tham gia phát triển hoạt động kinh tế sử dụng không gian biển. Đồng thời, rà soát nội dung trùng lặp tại khoản 2 và khoản 3 về ưu tiên nhóm dân cư dễ bị tổn thương, cộng đồng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thiên tai; thống nhất cách sử dụng các khái niệm liên quan để thuận lợi trong áp dụng.
Đối với Điều 51 và Điều 52, đại biểu lưu ý, dự thảo quy định trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong rà soát, phân loại, xây dựng phương án xử lý, lộ trình điều chỉnh, chuyển đổi công năng hoặc di dời các công trình tại khu vực có nguy cơ sạt lở, công trình nằm trong khoảng lùi xây dựng hoặc không còn phù hợp với quy hoạch. Những quy định này tác động lớn đến quyền, lợi ích của chủ sở hữu, chủ sử dụng công trình nhưng chưa xác định rõ thời hạn thực hiện.

Trong khi đó, dự thảo quy định UBND cấp tỉnh phải công bố khoảng lùi xây dựng trước ngày 1/1/2028, khoảng thời gian tương đối ngắn tính từ khi Luật dự kiến có hiệu lực. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung quy định cụ thể về thời hạn xây dựng lộ trình điều chỉnh, chuyển đổi công năng hoặc di dời công trình, bảo đảm tính khả thi và quyền, lợi ích của các chủ thể liên quan.
Giám sát chặt ưu đãi đầu tư, ngăn ngừa trục lợi chính sách
Góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, ĐBQH Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) đề nghị tiếp tục duy trì quy định báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với Quỹ Hỗ trợ đầu tư, nhằm bảo đảm cơ chế giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch, phòng ngừa tiêu cực trong quản lý, sử dụng nguồn lực hỗ trợ đầu tư.
Đại biểu cũng đề nghị bổ sung chế tài thu hồi các ưu đãi về thuế, đất đai đối với nhà đầu tư đã được hưởng chính sách ưu đãi nhưng triển khai dự án dở dang rồi bỏ, không thực hiện đầy đủ các cam kết đầu tư.

Đối với khu công nghiệp sinh thái, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu thường xuyên hậu kiểm việc đáp ứng các tiêu chí môi trường trong quá trình hoạt động, tránh tình trạng nhà đầu tư đăng ký đáp ứng tiêu chí xanh để được hưởng ưu đãi nhưng sau đó không thực hiện đúng cam kết, gây ô nhiễm môi trường.
Liên quan đến phân cấp, phân quyền, đại biểu đề nghị quy định rõ, minh bạch thẩm quyền quyết định ưu đãi đầu tư giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Đồng thời, rà soát, bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định pháp luật liên quan đến đầu tư, đất đai và sử dụng khu vực biển, nhất là về thời hạn giao đất, sử dụng khu vực biển từ 50 đến 70 năm.

Cũng góp ý dự thảo, ĐBQH Hoàng Minh Hiếu (Nghệ An) lưu ý nguy cơ khó đảo ngược khi nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo một số hiệp định quốc tế. Theo đại biểu, việc mở rộng điều kiện tiếp cận thị trường có thể tạo ra những cam kết không thể thu hẹp trở lại, kể cả khi Quốc hội sửa đổi luật, tiềm ẩn rủi ro trong quá trình thực hiện các cam kết quốc tế.
Từ đó, đại biểu đề nghị, nếu áp dụng cơ chế cho phép Chính phủ nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, cần thực hiện theo cơ chế chung của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

Liên quan đến chính sách khấu hao nhanh đối với tài sản cố định hình thành từ dự án khu công nghiệp sinh thái tại Điều 17b, một số ý kiến đề nghị làm rõ phạm vi và đối tượng áp dụng. Theo đó, pháp luật hiện hành quy định việc trích khấu hao đối với tài sản cố định, trong khi dự thảo có nội dung hướng tới cả chi phí xây dựng công trình; đồng thời, khái niệm “các tài sản khác” chưa được xác định cụ thể, có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khi thực hiện.
Các ý kiến đề nghị chỉnh lý quy định này phù hợp với pháp luật về trích khấu hao tài sản cố định, xác định rõ đối tượng được áp dụng chính sách khấu hao nhanh theo hướng chỉ áp dụng đối với tài sản cố định hình thành từ dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động cộng sinh công nghiệp, đáp ứng tiêu chí chuyển đổi khu công nghiệp sinh thái.