Cân nhắc thận trọng thẩm quyền nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài
Thảo luận tại Tổ 10 (Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An, Đồng Tháp) về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, các ĐBQH tỉnh Nghệ An đề nghị làm rõ căn cứ pháp lý, thẩm quyền nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và phù hợp với các cam kết quốc tế; đồng thời, hoàn thiện cơ chế thu hồi ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và nguyên tắc hỗ trợ từ ngân sách địa phương, tránh trùng lặp, lãng phí.
ĐBQH TRẦN NHẬT MINH:
Làm rõ căn cứ pháp lý khi nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường
Tôi đề nghị làm rõ căn cứ pháp lý, thẩm quyền quyết định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; đồng thời hoàn thiện các quy định về thu hồi ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và cơ chế đặc thù thu hút đầu tư của địa phương.
Đối với quy định giao Chính phủ xem xét, quyết định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường trong các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, tôi đồng tình với ý kiến thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính về việc cần cân nhắc quy định này, nhằm bảo đảm tính hợp pháp, thống nhất của hệ thống pháp luật và không trái với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Theo tôi, căn cứ “điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước” được nêu trong dự thảo còn chung chung, chưa xác định rõ tiêu chí áp dụng. Trong khi đó, quy định về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp đặc biệt chỉ đặt ra đối với trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp. Vì vậy, tôi đề nghị cơ quan soạn thảo giải trình rõ căn cứ pháp lý của việc giao thẩm quyền cho Chính phủ và tính tương thích với quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Dự thảo quy định Chính phủ phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi ban hành quyết định nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường thuộc phạm vi quy định tại các văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhưng chưa làm rõ cách xử lý nếu Ủy ban Thường vụ Quốc hội không đồng tình với ý kiến của Chính phủ. Từ đó, tôi đặt vấn đề về việc xác định thẩm quyền quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong trường hợp này, đồng thời đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ để tránh khoảng trống pháp lý, vướng mắc khi thực hiện.
Về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt tại Điều 17, tôi đồng tình với quy định cho phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét thu hồi ưu đãi, hỗ trợ đối với nhà đầu tư không đáp ứng các tiêu chí, điều kiện hoặc không thực hiện đầy đủ cam kết. Tuy nhiên, dự thảo chưa làm rõ nhà đầu tư có phải hoàn trả các khoản ưu đãi, hỗ trợ đã được hưởng hay không. Tôi đề nghị bổ sung, làm rõ nội dung này nhằm bảo đảm nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả.
Liên quan đến cơ chế đặc thù thu hút đầu tư của địa phương tại khoản 2 Điều 17a, tôi đề nghị giao trực tiếp UBND cấp tỉnh quyết định quy trình, thủ tục hỗ trợ đầu tư, thay vì quy định HĐND cấp tỉnh quyết định hoặc giao UBND cấp tỉnh quyết định như dự thảo. Theo tôi, đây là thủ tục hành chính thông thường, cần xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan thực hiện, tránh phát sinh khó khăn, vướng mắc cho địa phương trong quá trình triển khai.
ĐBQH VŨ THỊ LAN ANH:
Quy định rõ nguyên tắc hỗ trợ đầu tư từ ngân sách địa phương
Tôi tán thành định hướng hoàn thiện chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao hiệu quả hỗ trợ đầu tư và đẩy mạnh phân cấp, tạo thêm quyền chủ động cho địa phương. Để các chính sách phát huy hiệu quả, tôi đề nghị Chính phủ cân nhắc bổ sung thông tin đánh giá tác động, nhất là đối với cơ chế hỗ trợ đầu tư từ ngân sách địa phương tại Điều 17a, chính sách phát triển khu công nghiệp sinh thái tại Điều 17b, hỗ trợ chi phí đào tạo lao động và cơ chế khấu hao nhanh.

Đồng thời, tôi đề nghị rà soát, đối chiếu dự thảo với các dự án luật liên quan đang được Quốc hội xem xét, nhất là trong lĩnh vực đất đai, ngân sách, đấu thầu, tài nguyên và môi trường biển, bảo đảm thống nhất về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và phạm vi giao Chính phủ quy định chi tiết.
Đối với Điều 17 và Điều 17a, tôi đánh giá cao việc mở rộng quyền chủ động của địa phương trong hỗ trợ nhà đầu tư, nhất là đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của dự án. Dự thảo quy định các hình thức hỗ trợ đầu tư đặc biệt, trong đó có hỗ trợ chi phí đào tạo lao động là người Việt Nam; đồng thời cho phép HĐND cấp tỉnh quyết định sử dụng ngân sách địa phương hỗ trợ chi phí đào tạo tại cơ sở đào tạo của doanh nghiệp trong và ngoài nước, với mức hỗ trợ không vượt quá mức tối đa theo quy định của Chính phủ.
Để bảo đảm phối hợp giữa nguồn lực Trung ương và địa phương, tránh hỗ trợ trùng lặp đối với cùng một khoản chi phí, tôi đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa các chính sách tại Điều 17 và Điều 17a.
Về thu hồi ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt tại điểm c khoản 4 Điều 17, tôi đề nghị làm rõ cơ chế thu hồi khi nhà đầu tư không đáp ứng tiêu chí, điều kiện hoặc cam kết đã xác định; đặc biệt là việc xử lý phần ưu đãi, hỗ trợ đã được hưởng, căn cứ xác định mức thu hồi và trách nhiệm hoàn trả.
Đối với cơ chế đặc thù thu hút đầu tư của địa phương tại Điều 17a, tôi đề nghị quy định ngay trong Luật các nguyên tắc hỗ trợ chung: đúng đối tượng, gắn với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp, phù hợp khả năng cân đối ngân sách, công khai, minh bạch và không trùng lặp. Trên cơ sở đó, giao HĐND cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ cụ thể phù hợp với điều kiện địa phương, bảo đảm sử dụng ngân sách tiết kiệm, hiệu quả.
Về chính sách khấu hao nhanh tại Điều 17b, pháp luật hiện hành quy định trích khấu hao đối với tài sản cố định, trong khi dự thảo có nội dung hướng tới cả chi phí xây dựng công trình. Khái niệm “các tài sản khác” cũng chưa xác định rõ phạm vi, có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khi thực hiện... Vì vậy, tôi đề nghị chỉnh lý quy định này phù hợp với pháp luật về trích khấu hao tài sản cố định, theo hướng chỉ áp dụng khấu hao nhanh đối với tài sản cố định hình thành từ dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động cộng sinh công nghiệp, đáp ứng tiêu chí chuyển đổi khu công nghiệp sinh thái.
Đối với thủ tục đầu tư đặc biệt tại khoản 1a Điều 28, tôi đề nghị làm rõ các loại dự án được quy định tại khoản này có bao gồm dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư hay không, bảo đảm thống nhất với khoản 1 Điều 28 Luật Đầu tư năm 2025.
Liên quan đến hoạt động xúc tiến đầu tư tại khoản 3 Điều 49, dự thảo định hướng chuyển từ xúc tiến đầu tư dàn trải sang tiếp cận, vận động, đàm phán và đồng hành với nhà đầu tư chiến lược, dự án chiến lược. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành đã có quy định về nhà đầu tư chiến lược nhưng chưa có quy định tương ứng về dự án chiến lược. Tôi đề nghị làm rõ tiêu chí xác định dự án chiến lược hoặc cân nhắc điều chỉnh quy định để bảo đảm rõ ràng, thống nhất và thuận lợi khi thực hiện.
ĐBQH HOÀNG MINH HIẾU:
Thận trọng với nguy cơ khó đảo ngược khi nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường
Tôi đề nghị đổi mới cách tiếp cận trong xây dựng Luật Đầu tư, hạn chế quy định cụ thể về quản lý từng dự án, tập trung vào các điều kiện khuyến khích và định hướng đầu tư nhằm bảo đảm tính ổn định, bền vững của Luật, phù hợp với mối quan hệ chặt chẽ giữa Luật Đầu tư và các luật chuyên ngành.

Về thẩm quyền nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài tại khoản 3 Điều 1 của dự thảo, bổ sung khoản 3a vào Điều 8 của Luật hiện hành, tôi băn khoăn về quy định cho phép Chính phủ quyết định nới lỏng cả những điều kiện được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội và pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vì ba lý do.
Thứ nhất, về thẩm quyền và thứ bậc hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội có hiệu lực pháp lý cao hơn văn bản của Chính phủ, trong khi căn cứ nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường tại dự thảo còn chung chung, chỉ dựa trên “điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước”. Đặc biệt, thu hút đầu tư nước ngoài còn liên quan đến an ninh kinh tế. Vì vậy, cần cân nhắc kỹ việc cho phép Chính phủ ban hành nghị định điều chỉnh những nội dung đã được quy định tại văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
Thứ hai, cơ chế đề xuất chưa thống nhất với các cơ chế hiện hành. Nghị quyết số 206 của Quốc hội đặt ra điều kiện, thời hạn và trách nhiệm trình sửa đổi luật khi cho phép Chính phủ điều chỉnh quy định của luật. Pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng quy định chặt chẽ cơ chế đặc biệt, chỉ áp dụng trong trường hợp cấp bách mà Quốc hội không thể họp. Trong khi đó, dự thảo Luật Đầu tư đề xuất cơ chế rộng hơn.
Thứ ba, nguy cơ không thể đảo ngược khi mở rộng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài. Theo Tờ trình của Chính phủ, việc mở rộng cơ chế khuyến khích đầu tư theo một số hiệp định quốc tế có tính chất chỉ có thể mở rộng mà không thể thu hẹp trở lại. Nếu Chính phủ quyết định nới lỏng, việc sửa đổi pháp luật sau đó để thu hẹp những điều kiện đã mở rộng có thể không thực hiện được, kể cả khi Quốc hội sửa đổi luật, do phải bảo đảm các cam kết quốc tế.
Từ ba lý do trên, tôi đề nghị nếu áp dụng cơ chế nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường thì cần thực hiện theo cơ chế chung của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.
Về các quy định sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự, dự thảo có nội dung sửa đổi Điều 26 và Điều 27 nhằm đồng bộ với Luật Đầu tư đã đưa hoạt động thừa phát lại ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên, hoạt động của văn phòng thừa phát lại có tính chất đặc thù, tác động lớn đến việc tổ chức thực hiện các phán quyết.
Trước hết, về quy trình, nội dung sửa đổi này mới được bổ sung sau bước Chính phủ cho ý kiến đối với dự thảo, do đó cần có đánh giá tác động cụ thể.
Về cách tiếp cận, dự thảo chưa làm rõ hoạt động thừa phát lại có thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hay không. Dự thảo vẫn quy định trưởng văn phòng phải có ít nhất hai năm hành nghề, văn phòng phải có nơi tiếp công dân và kho lưu trữ. Theo tôi, về bản chất, đây vẫn là những điều kiện kinh doanh.
Nếu xác định đây là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì cần cân nhắc sửa đổi Luật Đầu tư để đưa vào danh mục tương ứng. Ngược lại, nếu xác định không thuộc diện kinh doanh có điều kiện thì cần thiết kế quy định phục vụ công tác hậu kiểm... Tôi đề nghị rà soát kỹ các quy định liên quan giữa Luật Đầu tư và Luật Thi hành án dân sự vừa được sửa đổi, bổ sung, bảo đảm tính thống nhất, rõ ràng và khả thi.