Giảm thủ tục đánh giá tác động môi trường cần cơ chế hậu kiểm chặt chẽ
Thảo luận tại Tổ 12 (Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ và Cà Mau) về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, các đại biểu cho rằng, việc cắt giảm thủ tục đánh giá tác động môi trường cần đi đôi với cơ chế hậu kiểm tương xứng, tránh nguy cơ xảy ra các sự cố ô nhiễm môi trường có thể gia tăng.

Tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ Hai, sáng 24/10, các đại biểu đã thảo luận tại tổ về: dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài tham dự phiên thảo luận.
Miễn đánh giá tác động môi trường phải phù hợp với từng ngành nghề
Góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, ĐBQH Đặng Bích Ngọc (Phú Thọ) đồng tình với chủ trương giảm thủ tục đánh giá tác động môi trường đối với những dự án ít có nguy cơ gây tác động xấu đến môi trường. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cần phân biệt rõ giữa việc đánh giá môi trường ở cấp khu vực và đánh giá đầy đủ tác động của từng dự án cụ thể, bảo đảm việc cắt giảm thủ tục phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu bảo vệ môi trường.

Theo đại biểu, một dự án nằm trong khu công nghiệp có thể sử dụng hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc mọi tác động riêng về khí thải, mùi, tiếng ồn hoặc các rủi ro môi trường khác đều đã được kiểm soát. Do đó, đại biểu đề nghị việc miễn đánh giá tác động môi trường phải gắn với sự phù hợp của ngành nghề, công nghệ, tính chất chất thải và năng lực tiếp nhận, xử lý thực tế của hạ tầng môi trường. Khi phát sinh yếu tố rủi ro mới, cần có cơ chế đánh giá bổ sung tương ứng.
Theo đại biểu, việc dự kiến cắt giảm các đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, chuyển sang áp dụng thủ tục cấp giấy phép hoặc đăng ký môi trường, cần đi đôi với cơ chế hậu kiểm tương xứng. Nếu không tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện, nguy cơ xảy ra các sự cố ô nhiễm môi trường có thể gia tăng.
Thực tế cho thấy, hoạt động xả thải của doanh nghiệp, nhà máy nếu không được kiểm soát chặt chẽ có thể gây tác động nghiêm trọng đến môi trường và đời sống người dân. Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo đánh giá kỹ lưỡng các quy định liên quan, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu cải cách thủ tục hành chính với yêu cầu bảo vệ môi trường. Việc đơn giản hóa thủ tục cho người dân và doanh nghiệp phải gắn với các cơ chế, quy định đủ mạnh để kiểm soát quá trình thực hiện, hướng tới mục tiêu cuối cùng là bảo vệ tốt nhất môi trường sống và sức khỏe của người dân.

Về thẩm quyền cấp giấy phép môi trường tại Điều 41, đại biểu Đặng Bích Ngọc cho rằng, việc thu hẹp phạm vi cấp phép trực tiếp của Bộ, tăng cường phân cấp cho địa phương là hướng đi cần thiết nhằm rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục và làm rõ trách nhiệm tại nơi phát sinh nguồn thải.
Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường có thể lan truyền theo lưu vực sông, hướng gió và hệ thống thoát nước, vượt ra ngoài địa giới hành chính của địa phương nơi đặt dự án. Vì vậy, cần bổ sung cơ chế lấy ý kiến của địa phương chịu tác động trực tiếp đối với các dự án có nguy cơ gây ảnh hưởng liên tỉnh; đồng thời, quy định rõ thời hạn phản hồi và cơ quan giải quyết khi có ý kiến khác nhau.
Đại biểu cũng lưu ý, dù giấy phép được cấp tại địa phương, việc kiểm soát tổng tải lượng ô nhiễm trên cùng một lưu vực vẫn cần có đầu mối điều phối và hệ thống dữ liệu thống nhất. Bên cạnh đó, việc phân cấp, phân quyền phải đi đôi với bảo đảm các điều kiện thực hiện, bao gồm nhân lực chuyên môn, kinh phí và khả năng tiếp cận dữ liệu quan trắc.

Góp ý về quy định tại Điều 46 và Điều 48 liên quan đến vận hành công trình xử lý chất thải và trách nhiệm của cơ quan cấp phép, đại biểu đề nghị làm rõ cơ chế hậu kiểm dựa trên mức độ rủi ro, bảo đảm khi giảm tiền kiểm, pháp luật phải quy định cụ thể cách thức tổ chức hậu kiểm và trách nhiệm của các bên liên quan.
Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị, Điều 46, cần quy định rõ trách nhiệm của chủ dự án trong việc chứng minh công trình xử lý chất thải đáp ứng yêu cầu trước khi vận hành chính thức; đồng thời, lưu giữ kết quả vận hành, quan trắc và cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền. Đại biểu nhấn mạnh, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính cần được đánh giá kỹ lưỡng, gắn với các biện pháp kiểm soát hiệu quả trong quá trình thực hiện.
Đối với Điều 48, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc lựa chọn đối tượng hậu kiểm dựa trên mức độ rủi ro, lịch sử tuân thủ, kết quả quan trắc và phản ánh có căn cứ của người dân. Cần có cơ chế kiểm tra kịp thời khi dữ liệu cảnh báo vượt ngưỡng, công trình xử lý chất thải ngừng hoạt động hoặc xuất hiện dấu hiệu xảy ra sự cố. Đồng thời, các cơ quan cần phối hợp kế hoạch kiểm tra nhằm hạn chế trùng lặp đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt.
Đại biểu Đặng Bích Ngọc nhấn mạnh, cần công khai kết quả xử lý vi phạm và tiến độ khắc phục; tăng cường thông tin để người dân biết các phản ánh, kiến nghị của mình đã được tiếp nhận, giải quyết đến đâu và có được xử lý thấu đáo hay không. Qua đó, nâng cao hiệu quả giám sát, bảo đảm các vấn đề môi trường được phát hiện, xử lý kịp thời, hạn chế những hậu quả phát sinh.
Gắn phân loại rác tại nguồn với thu gom, xử lý đồng bộ
Góp ý về khoản 42 và khoản 45 Điều 1 dự thảo Luật liên quan đến phân loại chất thải rắn sinh hoạt, ĐBQH Lê Thị Ngọc Linh (Cà Mau) cho rằng, cần quy định rõ thời hạn bắt buộc thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt, đồng thời tính đến sự khác biệt về điều kiện hạ tầng thu gom, tập kết và xử lý rác giữa các địa phương. Hiện nay, một số nơi còn thiếu phương tiện thu gom, chưa có nhà máy xử lý chất thải, chủ yếu sử dụng các lò đốt đơn giản, dẫn đến nhiều khó khăn trong tổ chức thực hiện.

Từ kinh nghiệm khảo sát mô hình phân loại rác tại Hàn Quốc, đại biểu cho rằng, bên cạnh tuyên truyền, vận động, cần tổ chức quy trình phân loại, thu gom và xử lý đồng bộ để người dân có thể thực hiện thuận tiện, qua đó nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường.
Về phương án phân loại thành các nhóm chất thải tái chế và chất thải khác, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu thận trọng đặc tính của từng loại chất thải. Chất thải thực phẩm có độ ẩm cao, dễ phân hủy, phát sinh mùi và nước rỉ rác. Nếu không được phân loại, thu gom và xử lý phù hợp, loại chất thải này có thể làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

Do đó, đại biểu kiến nghị không áp dụng cứng nhắc một mô hình phân loại cho tất cả địa phương. Thay vào đó, cần quy định nguyên tắc phân loại thống nhất, đồng thời cho phép địa phương lựa chọn mô hình 2 nhóm hoặc 3 nhóm phù hợp với điều kiện hạ tầng, công nghệ và phương án xử lý cụ thể. Đối với địa phương chưa đủ điều kiện, có thể áp dụng mô hình 2 nhóm trong giai đoạn chuyển tiếp, kèm theo lộ trình nâng cấp khi đáp ứng các yêu cầu cần thiết, bảo đảm mục tiêu tái chế và bảo vệ môi trường.
Đại biểu Lê Thị Ngọc Linh cũng đề nghị làm rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương trong bố trí hạ tầng, tổ chức thu gom riêng, công khai lịch thu gom và giá dịch vụ; đồng thời quy định trách nhiệm của đơn vị thu gom, vận chuyển trong việc duy trì riêng các dòng chất thải đã phân loại và tăng cường giám sát để việc phân loại rác được thực hiện thực chất, hiệu quả.

Về phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, ĐBQH Nguyễn Bình Tân (Cà Mau) cho rằng, công tác tuyên truyền, vận động người dân đã được triển khai nhưng hiệu quả chưa bền vững do hệ thống thu gom và xử lý ở khâu sau chưa đồng bộ. Theo đại biểu, nếu rác đã được phân loại tại hộ gia đình nhưng khi thu gom lại bị trộn chung thì mục tiêu phân loại khó đạt được. Trong khi đó, tổ chức thu gom riêng từng dòng chất thải có thể làm tăng chi phí vận hành, đòi hỏi phương án tổ chức phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng cân đối nguồn lực của địa phương.
Đại biểu đề nghị gắn cơ chế phí xử lý với việc khuyến khích phân loại rác tại nguồn. Theo đó, cần nghiên cứu khả năng để các đơn vị đầu tư, vận hành hệ thống xử lý có cơ chế khuyến khích đối với những hộ gia đình thực hiện phân loại tốt, qua đó tăng động lực tham gia của người dân.
Đối với nước thải y tế, đại biểu nhấn mạnh, cần tiếp tục nâng cao tiêu chuẩn xử lý, bởi loại nước thải này có thể chứa nhiều thành phần nguy hại, ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Đại biểu đề nghị có cơ chế hỗ trợ về công nghệ và kinh phí để các cơ sở y tế nâng cao chất lượng xử lý nước thải; đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát và xác định rõ trách nhiệm của chủ cơ sở y tế, đặc biệt là các cơ sở y tế tư nhân, trong việc tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường.

Ngoài ra, đại biểu cũng phản ánh, hiện nay, cơ chế thu giá dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt dựa trên khối lượng hoặc thể tích rác chưa phản ánh đầy đủ tính chất của từng loại chất thải, trong đó có mức độ nguy hại và chi phí xử lý khác nhau.
Từ thực tế đó, đại biểu đề xuất, cần nghiên cứu cơ chế thu phí xử lý rác ngay từ khâu tiêu dùng sản phẩm, thay vì chỉ thu sau khi rác được thải ra. Chẳng hạn, có thể tính chi phí xử lý vào giá các sản phẩm có khả năng trở thành rác thải sau sử dụng, với mức phí phù hợp tính chất của từng loại vật liệu; trong đó, sản phẩm nhựa có thể áp dụng mức phí cao hơn nhằm khuyến khích người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm thân thiện với môi trường. Cơ chế này vừa góp phần bảo đảm nguồn thu cho xử lý rác, vừa hạn chế phát sinh rác thải nhựa, đại biểu nhấn mạnh.