Chính trị

Bổ sung cơ chế giải quyết liên tỉnh, liên vùng đối với sự cố môi trường

H.Ngọc • 24/10/2026 14:49

Thảo luận tại Tổ 7 (gồm: Đoàn ĐBQH TP. Bắc Ninh và tỉnh Lâm Đồng) một số ý kiến lưu ý, số sự cố môi trường thường lan rộng trên phạm vi liên xã, liên tỉnh chứ không giới hạn trong một địa giới hành chính. Tuy nhiên, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường chưa làm rõ trách nhiệm khi xảy ra sự cố thuộc về cơ sở phát sinh nguồn xả hay do cơ quan liên ngành phối hợp xử lý.

Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 7. Ảnh: Tiến Cường
Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 7. Ảnh: Tiến Cường

Thiếu chế tài xử lý và cơ chế kiểm soát xả thải từ đầu nguồn

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, Chánh án Toà án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Quảng nêu rõ, dự thảo Luật giao nhiều nhiệm vụ xử lý sự cố môi trường cho cấp xã. Tuy nhiên, cấp xã hiện gặp nhiều khó khăn do thiếu hụt cả về nhân lực lẫn vật lực.

Dẫn chứng sự cố môi trường về nguồn nước thường lan rộng trên phạm vi liên xã, liên tỉnh, chứ không giới hạn trong một địa giới hành chính, Chánh án Toà án nhân dân tối cao lưu ý, dự thảo Luật chưa làm rõ trách nhiệm khi xảy ra sự cố thuộc về cơ sở phát sinh nguồn xả hay do cơ quan liên ngành phối hợp xử lý.

Chánh án Tòa án NDTC, ĐBQH Nguyễn Văn Quảng (Tỉnh Lâm Đồng) phát biểu thảo luận. Ảnh: Tiến Cường
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Quảng, ĐBQH tỉnh Lâm Đồng phát biểu. Ảnh: Tiến Cường

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị, giao cấp tỉnh chủ trì xử lý các sự cố môi trường cả về nhân lực và vật lực. Bổ sung cơ chế giải quyết liên tỉnh, liên vùng đối với sự cố môi trường có phạm vi ảnh hưởng rộng.

Chỉ rõ dự thảo Luật đang thiếu chế tài xử lý và cơ chế kiểm soát xả thải từ đầu nguồn, Chánh án Toà án nhân dân tối cao nêu rõ, tình trạng thiếu chế tài dẫn đến việc xả thải thô trực tiếp ra hệ thống chung, gây ô nhiễm nghiêm trọng làm suy thoái các dòng sông. Trong khi đó, chúng ta đang có xu hướng dồn toàn bộ trách nhiệm xử lý nguồn thải cho Nhà nước (thu gom nước xả thải chung về trạm xử lý tập trung) thay vì kiểm soát và bắt buộc xử lý triệt để ngay tại đầu nguồn phát sinh.

Linh mục, ĐBQH Lê Nguyên Thao (Tỉnh Lâm Đồng) phát biểu thảo luận. Ảnh: Tiến Cường
ĐBQH Lê Nguyên Thao (Lâm Đồng) phát biểu. Ảnh: Tiến Cường

Nhấn mạnh, cơ quan nhà nước không phải là chủ thể duy nhất và không có đủ năng lực để quán xuyến toàn bộ công tác bảo vệ môi trường, Chánh án Toà án nhân dân tối cao nhấn mạnh, cần nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường phải là trách nhiệm chung của toàn xã hội, của từng người dân và của mỗi doanh nghiệp. Đồng thời bổ sung các quy định nhằm nâng cao nghĩa vụ pháp lý và chế tài xử lý đối với tất cả các chủ thể xả thải trong xã hội.

Cần cơ chế “hậu kiểm” tương xứng

Khoản 8 Điều 1 của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 17 của Luật hiện hành, trong đó có quy định việc điều tra, đánh giá và lập danh mục các khu vực đất có dấu hiệu hoặc bị nghi ngờ ô nhiễm. Trên cơ sở kết quả điều tra, đánh giá, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền lập danh mục các khu vực có nguy cơ ô nhiễm, khu vực ô nhiễm môi trường đất để theo dõi, giám sát; xác định các khu vực bị ô nhiễm và làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm.

ĐBQH Đỗ Thị Việt Hà (TP. Bắc Ninh) phát biểu thảo luận. Ảnh: Tiến Cường
ĐBQH Đỗ Thị Việt Hà (TP. Bắc Ninh) phát biểu. Ảnh: Tiến Cường

ĐBQH Đỗ Thị Việt Hà (TP. Bắc Ninh) tán thành quy định nêu trên nhằm chủ động phòng ngừa, phục hồi chất lượng môi trường đất. Tuy nhiên, dự thảo Luật cần quy định đầy đủ, cụ thể một số vấn đề như: hậu quả pháp lý của việc điều tra, đánh giá khu vực đất có dấu hiệu hoặc bị nghi ngờ bị ô nhiễm; mối quan hệ giữa việc điều tra khu vực đất có dấu hiệu hoặc bị nghi ngờ ô nhiễm với việc triển khai các dự án đầu tư theo pháp luật về đất đai và đầu tư.

Dự thảo Luật sửa đổi theo hướng các dự án được phân loại thành 3 nhóm gồm: có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao (Nhóm I); có nguy cơ tác động xấu đến môi trường (Nhóm II); ít có nguy cơ tác động xấu đến môi trường (Nhóm III). Riêng Nhóm III là các dự án không phải thực hiện ĐTM, không phải có giấy phép môi trường mà chỉ thực hiện đăng ký môi trường hoặc không phải đăng ký môi trường. Như vậy, Điều 30 của Luật hiện hành được sửa đổi theo hướng chỉ còn các dự án thuộc nhóm I, nhóm II và thuộc 4 trường hợp phải thực hiện ĐTM.

Đại biểu tham dự phiên thảo luận tại tổ 7. Ảnh: Tiến Cường
Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại Tổ 7. Ảnh: Tiến Cường

Quy định nêu trên nhằm cắt giảm, đơn giản hoá các thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, tuy nhiên, đại biểu Đỗ Thị Việt Hà lưu ý, việc dự thảo Luật cắt giảm trên 90% đối tượng phải thực hiện ĐTM để chuyển sang cấp giấy phép hoặc đăng ký môi trường đòi hỏi cần có cơ chế “hậu kiểm” tương xứng, bởi nếu không tăng cường các quy định về thanh tra, kiểm tra thì có thể làm tăng khả năng rủi ro xảy ra các sự cố gây ô nhiễm môi trường.

Đại biểu tham dự phiên thảo luận tại tổ 7. Ảnh: Tiến Cường
Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại Tổ 7. Ảnh: Tiến Cường

Đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo đánh giá tác động kỹ lưỡng các quy định liên quan đến nội dung này, bảo đảm cân bằng giữa mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh phát triển kinh tế với yêu cầu bảo vệ môi trường bền vững.

Ngoài ra, khoản 12 Điều 1 của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 30 của Luật hiện hành theo hướng quy định dự án phải thực hiện ĐTM là các dự án nhóm I, nhóm II và thuộc 4 trường hợp, trong đó có trường hợp “có nguy cơ tác động xấu đến môi trường chủ yếu ở giai đoạn thi công, triển khai thực hiện dự án”. Tiêu chí có nguy cơ tác động xấu đến môi trường “chủ yếu ở giai đoạn thi công, triển khai thực hiện dự án” là quy định mới nhưng chưa được định nghĩa hoặc giải thích cụ thể trong dự thảo Luật.

Việc không quy định cụ thể có thể dẫn đến khó khăn trong thực tiễn khi xác định dự án phải thực hiện ĐTM. Do đó, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc, quy định cụ thể nội dung nêu trên trong dự thảo Luật.

H.Ngọc