Ý kiến đại biểu

Bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh trong quản lý biển và bảo vệ môi trường

Diệp Anh; ảnh: Khánh Duy • 24/10/2026 12:09

Tham gia góp ý tại phiên thảo luận Tổ 10 (Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An và Đồng Tháp) sáng 24/10, ĐBQH Lương Đình Hưng (Nghệ An) đề nghị thống nhất cơ chế phối hợp với Bộ Quốc phòng trong quản lý, sử dụng không gian biển; đồng thời làm rõ thẩm quyền quản lý môi trường, bảo đảm yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước đối với các dự án, cơ sở thuộc lĩnh vực quốc phòng.

Thống nhất cơ chế phối hợp trong quản lý, sử dụng không gian biển

Góp ý dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), ĐBQH Lương Đình Hưng bày tỏ nhất trí cao với sự cần thiết sửa đổi, thay thế Luật năm 2015. Theo đại biểu, hồ sơ dự án Luật được chuẩn bị công phu, nghiêm túc, bám sát mục tiêu, quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật; đã tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành, địa phương và ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, bảo đảm trình tự, thủ tục theo quy định.

259a8851(1).jpg
ĐBQH Lương Đình Hưng (Nghệ An) phát biểu.

Đại biểu đánh giá, dự thảo đã bám sát, thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Đảng về phát triển bền vững kinh tế biển, xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; trong đó nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia biển mạnh, từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia.

Dự thảo gồm 6 chương, 76 điều, trong đó Chương III về quản lý, sử dụng không gian biển là chương hoàn toàn mới, được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung các quy định về phân bổ, giao, cho thuê, đăng ký và giải quyết xung đột, chồng lấn trong sử dụng không gian biển.

Theo đại biểu, những nội dung này nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo, phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển.

Đại biểu cũng đánh giá dự thảo bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật, tương thích với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên; cơ bản đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ Hai.

Để hoàn thiện dự thảo, ĐBQH Lương Đình Hưng đề nghị rà soát, thống nhất và làm rõ cơ chế phối hợp với Bộ Quốc phòng và các cơ quan liên quan đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại tại khoản 3 Điều 26, khoản 4 Điều 34 và khoản 5, khoản 6 Điều 36.

259a8796.jpg
Các ĐBQH tỉnh Đồng Tháp dự thảo luận tổ

Theo đại biểu, cùng là yêu cầu lấy ý kiến về quốc phòng, an ninh nhưng các điều khoản lại có cách diễn đạt chưa thống nhất: khoản 3 Điều 26 quy định “có ý kiến bằng văn bản”, khoản 4 Điều 34 quy định “ý kiến thống nhất bằng văn bản”, trong khi khoản 5 Điều 36 chỉ quy định “phải có ý kiến”.

Từ đó, đại biểu kiến nghị thống nhất theo hướng yêu cầu có “ý kiến thống nhất bằng văn bản” của Bộ Quốc phòng đối với các dự án xây dựng đảo nhân tạo, công trình lưỡng dụng hoặc thực hiện tại đảo, quần đảo, vùng biển xa bờ, khu vực nhạy cảm về quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Việc lấy ý kiến phải được thực hiện trước khi quyết định chủ trương đầu tư, giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển và trước khi chấp thuận chuyển nhượng, cho thuê lại, góp vốn.

Đối với Điều 50, Điều 51 và Điều 52, đại biểu đề nghị cân nhắc bổ sung quy định "lấy ý kiến Bộ Quốc phòng" trước khi UBND cấp tỉnh thiết lập, điều chỉnh hành lang bảo vệ bờ biển, khoảng lùi xây dựng, bảo đảm không ảnh hưởng đến khu vực phòng thủ, công trình quốc phòng và khu vực biên giới trên biển.

Cùng với đó, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, đối chiếu dự thảo với Luật Biển Việt Nam, Luật Quốc phòng, Luật Biên phòng Việt Nam, Luật Cảnh sát biển Việt Nam, Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự, Luật Phòng thủ dân sự, Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Đầu tư, Luật Quy hoạch, Luật Bảo vệ môi trường và Luật Xử lý vi phạm hành chính, nhằm tránh chồng chéo, mâu thuẫn, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tính khả thi khi triển khai thực hiện.

Làm rõ thẩm quyền quản lý môi trường, bảo vệ bí mật nhà nước

Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, ĐBQH Lương Đình Hưng tập trung vào các quy định về thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép, đăng ký môi trường và quản lý thông tin, dữ liệu đối với các dự án, cơ sở thuộc bí mật nhà nước về quốc phòng.

259a8765.jpg
Các ĐBQH tỉnh Nghệ An dự thảo luận tổ

Về thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và cấp giấy phép môi trường, đại biểu nhất trí với cách tiếp cận của dự thảo tại khoản 16 Điều 1 sửa đổi Điều 35 và khoản 22 Điều 1 sửa đổi Điều 41, khi phân định thẩm quyền dựa trên ba căn cứ: mức độ nguy cơ tác động xấu đến môi trường, yếu tố bí mật nhà nước về quốc phòng, an ninh và địa bàn hoạt động; đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước.

Đại biểu đề nghị tại nghị định quy định chi tiết, giao Bộ Quốc phòng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp và điều chỉnh giấy phép môi trường đối với các dự án, cơ sở thuộc bí mật nhà nước về quốc phòng. Theo đại biểu, đề xuất này kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành đã được thực hiện ổn định trong thực tiễn.

259a8873.jpg
Toàn cảnh phiên thảo luận tổ

Đối với đăng ký môi trường, ĐBQH Lương Đình Hưng lưu ý, điểm a khoản 2 Điều 49 của Luật hiện hành, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15, quy định dự án đầu tư, cơ sở thuộc bí mật nhà nước về quốc phòng, an ninh không phải thực hiện đăng ký môi trường. Tuy nhiên, điểm a khoản 72 Điều 1 của dự thảo bãi bỏ quy định này, khiến các dự án, cơ sở trước đây thuộc diện miễn chuyển sang diện phải đăng ký môi trường, trong khi cơ quan tiếp nhận đối với nhóm này chưa được xác định.

Đáng chú ý, khoản 9 Điều 3 của dự thảo quy định các dự án, cơ sở thuộc bí mật nhà nước về quốc phòng, an ninh đã đi vào hoạt động trước ngày 1/3/2027, nếu thuộc đối tượng phải đăng ký môi trường theo quy định mới, phải hoàn thành đăng ký trước ngày 1/3/2028.

Để thực hiện quy định chuyển tiếp, đại biểu cho rằng cần xác định rõ cơ quan tiếp nhận và hình thức tiếp nhận ngay khi Luật có hiệu lực. Theo đó, đề nghị nghị định quy định chi tiết giao Bộ Quốc phòng tiếp nhận đăng ký môi trường đối với các dự án, cơ sở thuộc bí mật nhà nước về quốc phòng; đồng thời quy định hình thức, trình tự tiếp nhận phù hợp với chế độ bảo vệ bí mật nhà nước, tránh khoảng trống pháp lý trong quản lý chất thải và bảo vệ môi trường đối với các dự án, cơ sở có phát sinh chất thải.

Liên quan đến quy định về tạo lập, cung cấp, cập nhật và lưu trữ thông tin, dữ liệu môi trường tại khoản 57 Điều 1 của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi, bổ sung Điều 115), ĐBQH Lương Đình Hưng nhất trí với định hướng xây dựng nền quản trị môi trường dựa trên dữ liệu, song đề nghị làm rõ yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước trong hoạt động chuyển đổi số.

259a8860.jpg
ĐBQH Lương Đình Hưng (Nghệ An) phát biểu

Theo đại biểu, khoản 1 Điều 115 của dự thảo dẫn chiếu pháp luật về chuyển đổi số, dữ liệu, giao dịch điện tử và pháp luật có liên quan nhưng chưa đề cập cụ thể pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Trong khi đó, dự thảo đã loại trừ thông tin thuộc bí mật nhà nước ở khâu công khai nhưng chưa có quy định ngoại lệ tương ứng đối với nghĩa vụ cập nhật, kết nối và chia sẻ dữ liệu tại khoản 3 Điều 115.

Đại biểu chỉ ra nguy cơ phát sinh xung đột pháp lý khi các cơ sở quốc phòng phải thực hiện nghĩa vụ cập nhật dữ liệu lên hệ thống dùng chung, đồng thời phải tuân thủ quy định về bảo vệ bí mật nhà nước. Theo phân tích của đại biểu, việc đưa dữ liệu mật lên hệ thống dùng chung có thể vi phạm Điều 5 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025; trong khi không cập nhật dữ liệu lại có thể vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều 115 của dự thảo.

Các dữ liệu cần được bảo vệ bao gồm hồ sơ đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường, đăng ký môi trường, kết quả quan trắc tự động, liên tục và dữ liệu chất thải. Đây là những thông tin có thể phản ánh vị trí, quy mô, cường độ hoạt động của công trình quốc phòng thuộc phạm vi bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 2 Điều 7 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025.

Để khắc phục, đại biểu Lương Đình Hưng đề nghị bổ sung cụm từ “pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước” vào khoản 1 Điều 115, theo hướng quy định: “Chuyển đổi số về bảo vệ môi trường được thực hiện theo quy định của pháp luật về chuyển đổi số, pháp luật về dữ liệu, pháp luật về giao dịch điện tử, pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và pháp luật có liên quan”.

Diệp Anh; ảnh: Khánh Duy