Biến nhu cầu của doanh nghiệp FDI thành cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam
Thảo luận về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư tại phiên thảo luận của Tổ 2, Đoàn ĐBQH TP. Hồ Chí Minh sáng nay (24/10), Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh đề nghị tiếp tục hoàn thiện cơ chế đủ mạnh để biến nhu cầu mua sắm của doanh nghiệp FDI thành cơ hội phát triển cho doanh nghiệp Việt Nam; hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp FDI.

Sáng 24/10, tiếp tục Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội thảo luận tại tổ về: dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tham dự phiên thảo luận tại Tổ 2, Đoàn ĐBQH TP. Hồ Chí Minh.
Thiết kế cơ chế đủ mạnh, khả thi
Từ thực tiễn theo dõi khu vực đầu tư nước ngoài, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước.
Theo Tổng Thư ký Quốc hội Lê Quang Mạnh, nền kinh tế đang tồn tại tình trạng mà báo chí hay gọi là “hai nền kinh tế” hoặc “ốc đảo FDI”: khu vực FDI phát triển rất mạnh, kết nối chặt chẽ với chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất toàn cầu, sở hữu dây chuyền hiện đại và năng suất lao động cao, nhưng mức độ liên kết với phần còn lại (97 - 98% doanh nghiệp nhỏ và vừa) của nền kinh tế vẫn hạn chế.

Các tập đoàn lớn như LG, Samsung, Intel đã đưa Việt Nam trở thành cứ điểm sản xuất công nghiệp quan trọng trong mạng lưới toàn cầu. Tuy nhiên, mức độ lan tỏa từ các cứ điểm sản xuất này đến cộng đồng doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn rất hạn chế.
Cho rằng đây có thể là một nguy cơ lớn đối với tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn, Tổng Thư ký Quốc hội Lê Quang Mạnh nhấn mạnh, "nếu chúng ta không cơ cấu lại nền kinh tế, không hình thành được cấu trúc sản xuất có tính liên kết giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và nhỏ, giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước thì sẽ khó nâng cao năng suất chung của nền kinh tế và thực hiện mục tiêu giảm hệ số ICOR trong 5 - 10 năm tới".
Tổng Thư ký Quốc hội Lê Quang Mạnh đánh giá Ban soạn thảo dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư đã nỗ lực đưa ra định hướng chính sách khuyến khích tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình nội địa hóa tại khoản 9, Điều 17.
Tuy nhiên, Tổng Thư ký Quốc hội cũng cho rằng, "một ý tưởng chính sách lớn như vậy mà chỉ dừng lại ở quy định mang tính khuyến khích thì sẽ không có nhiều giá trị trong thực tiễn".

Dù vậy, theo Tổng Thư ký Quốc hội Lê Quang Mạnh, không nên bỏ quy định trên mà cần tiếp tục hoàn thiện, thiết kế thành một cơ chế đủ mạnh, để biến nhu cầu mua sắm của doanh nghiệp FDI thành cơ hội phát triển cho doanh nghiệp Việt Nam.
"Tất nhiên, chúng ta không thể áp đặt tỷ lệ nội địa hóa vì có thể vi phạm các cam kết và quy định quốc tế. Nhưng cần thiết kế các công cụ chính sách để khuyến khích doanh nghiệp FDI công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình nội địa hóa. Chẳng hạn, cần làm rõ doanh nghiệp được hưởng mức ưu đãi nào, tương ứng với phạm vi và mức độ công bố thông tin ra sao; việc thực hiện các cam kết này được đánh giá như thế nào và gắn với chính sách ưu đãi ra sao", Tổng Thư ký Quốc hội đề xuất.
Bên cạnh đó, Tổng Thư ký Quốc hội cũng cho rằng, có nhiều giải pháp để hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp FDI. Cơ quan soạn thảo đã đề xuất một số công cụ chính sách trong dự thảo Luật, nhưng với mục tiêu quan trọng như tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước, Tổng Thư ký Quốc hội đề nghị cần tiếp tục hoàn thiện để hình thành cơ chế có tính khả thi.
"Nếu không làm được điều này, chúng ta sẽ bỏ lỡ một cơ hội đáng tiếc để nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước và gia tăng tính lan tỏa của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế", Tổng Thư ký Quốc hội nói.
Tổng Thư ký Quốc hội lưu ý, chính sách không thể áp đặt tỷ lệ nội địa hóa theo cách vi phạm các cam kết quốc tế. Vấn đề là phải xây dựng được các công cụ hỗ trợ phù hợp, giúp doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia.
Đây không chỉ là câu chuyện kết nối giữa hai khu vực doanh nghiệp mà còn là điều kiện để nâng cao năng lực sản xuất trong nước, gia tăng giá trị giữ lại trong nền kinh tế và cải thiện chất lượng tăng trưởng.
Không để ưu đãi đầu tư dàn trải
Đánh giá cao nỗ lực thể chế hóa chủ trương của Đảng về thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao, ĐBQH Nguyễn Minh Đức cho rằng, Điều 17 của dự thảo Luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt cần tiếp tục được rà soát để bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ và khả thi. Qua phân tích các quy định, đại biểu chỉ ra một số điểm còn trùng lặp, chưa rõ ranh giới chính sách và có nguy cơ mâu thuẫn trong quá trình thực hiện.

Theo đại biểu, việc quy định đồng thời các dự án thuộc lĩnh vực công nghệ chiến lược và liệt kê cụ thể những lĩnh vực như bán dẫn, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo có thể dẫn đến trùng lặp, gây lúng túng khi áp dụng. Đáng chú ý, nếu đưa toàn bộ dự án thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư vào diện hưởng ưu đãi đặc biệt, chính sách sẽ mất trọng tâm, khó phân biệt với ưu đãi đầu tư thông thường và tạo áp lực lên ngân sách nhà nước.
Vì vậy, đại biểu Nguyễn Minh Đức đề nghị tiếp tục hoàn thiện Điều 17 nhằm bảo đảm tính minh bạch, chặt chẽ và giữ thẩm quyền giám sát ngân sách của Quốc hội, tính khả thi của điều luật.
Trong đó, đại biểu đề nghị điều chỉnh khoản 2 theo hướng thu gọn 4 nhóm lĩnh vực cốt lõi được hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt, gồm: trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo; hạ tầng số, trung tâm dữ liệu lớn, điện toán đám mây và các công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm logistics quốc tế.
Đại biểu cũng đề nghị bỏ điểm d khoản 2 về dự án thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư. Danh mục này hiện bao gồm nhiều lĩnh vực thông thường; nếu đưa toàn bộ vào Điều 17 sẽ làm mất ranh giới giữa ưu đãi thông thường và ưu đãi đặc biệt, dẫn đến phân bổ nguồn lực dàn trải và tạo áp lực lớn lên ngân sách nhà nước.


Đại biểu Nguyễn Minh Đức đề nghị thống nhất đầu mối thẩm quyền quyết định ưu đãi. Đề nghị bãi bỏ khoản 6, tích hợp nội dung phù hợp vào khoản 11 quy định rõ Chính phủ quyết định gói ưu đãi, hỗ trợ thuộc thẩm quyền. Trường hợp cần áp dụng cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội khác chưa được Luật quy định, Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Quốc hội xem xét, quyết định theo đúng thẩm quyền.
"Việc này nhằm xóa bỏ tình trạng tồn tại hai quy trình xử lý song song đối với cùng một bản chất sự việc, đồng thời bảo đảm tính thống nhất với Hiến pháp về thẩm quyền tối cao của Quốc hội đối với quyết định chính sách tài chính, thuế và ngân sách".
Đối với khoản 7 về hình thức hỗ trợ ngân sách, đại biểu Nguyễn Minh Đức đề nghị bỏ điểm e về hỗ trợ chi phí máy móc, thiết bị cho doanh nghiệp FDI tái đầu tư, vì việc sử dụng ngân sách để tài trợ trực tiếp cho tài sản cố định riêng lẻ của doanh nghiệp FDI là không phù hợp với nguyên tắc quản lý tài chính công, khó kiểm soát giá trị thực của thiết bị nhập khẩu và có thể tạo ra sự bất bình đẳng với doanh nghiệp trong nước.
"Ngân sách nhà nước nên tập trung hỗ trợ các nội dung có tính lan tỏa xã hội như đào tạo nhân lực, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, thử nghiệm có kiểm soát, hạ tầng kỹ thuật dùng chung, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng... ", đại biểu nhấn mạnh.
Gắn mức ưu đãi với trách nhiệm của nhà đầu tư
Cùng quan tâm đến Điều 17, ĐBQH Trần Anh Tuấn cho rằng, cần thiết kế các mức ưu đãi tương ứng với mức độ cam kết và trách nhiệm thực hiện của nhà đầu tư. Nhà đầu tư cam kết ở mức độ nào thì được hưởng mức hỗ trợ tương ứng, qua đó tạo động lực thực hiện đầy đủ các cam kết, nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư.

Nếu các mức ưu đãi được thiết kế tương đối ngang bằng, chưa thể hiện sự khác biệt gắn với trách nhiệm thực hiện, chính sách sẽ khó tạo ra động lực đủ mạnh để thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Đại biểu cũng lưu ý, thủ tục đầu tư đặc biệt chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được thiết kế đồng bộ với pháp luật chuyên ngành. Trên thực tế, một dự án có thể đã hoàn tất thủ tục đầu tư nhưng vẫn chưa thể triển khai do vướng mắc về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất hoặc các điều kiện pháp lý liên quan.
Vì vậy, cần làm rõ mối quan hệ giữa thủ tục đầu tư và thủ tục đất đai, bảo đảm việc đơn giản hóa thủ tục không chỉ dừng ở khâu chấp thuận đầu tư mà thực sự rút ngắn thời gian đưa dự án vào hoạt động.