Thời sự Quốc hội

Kiểm soát việc giảm thuế cho cơ sở cung cấp suất ăn trường học, bệnh viện

Trần Tâm • 23/10/2026 19:17

Chiều 23/10, góp ý về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân về chính sách giảm thuế đối với doanh nghiệp, cá nhân cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục, y tế, các đại biểu lưu ý, cần có cơ chế quản lý, hậu kiểm hiệu quả và xử lý nghiêm các hành vi không đúng mục tiêu chính sách, vừa bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm, vừa hạn chế thất thu ngân sách nhà nước.

Tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ Hai, chiều 23/10, các đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau và Phú Thọ đã thảo luận tại Tổ 12 về dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân; dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi).

Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ Phạm Đại Dương điều hành phiên thảo luận tổ. Ảnh: Xuân Quý
Toàn cảnh phiên thảo luận tổ. Ảnh: Xuân Quý


Bảo đảm ưu đãi thuế đúng đối tượng, mang lại lợi ích thực chất cho người học

Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân về chính sách giảm thuế đối với doanh nghiệp, cá nhân cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục, y tế, ĐBQH Nguyễn Bình Tân (Cà Mau) cho rằng, đây là chủ trương đúng đắn, góp phần hỗ trợ nguồn lực để nâng cao chất lượng bữa ăn cho học sinh và người bệnh. Tuy nhiên, giảm thuế không đồng nghĩa với việc chất lượng suất ăn và an toàn thực phẩm sẽ được bảo đảm, do đó cần tăng cường hậu kiểm và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Phó Trưởng đoàn chuyên trách tỉnh Cà Mau ĐBQH Nguyễn Bình Tân phát biểu. Ảnh: Xuân Quý
ĐBQH Nguyễn Bình Tân (Cà Mau) phát biểu. Ảnh: Xuân Quý

Theo đại biểu, Chính phủ cần quy định chặt chẽ để bảo đảm chính sách được áp dụng đúng đối tượng, đúng mục tiêu. Thực tế, nhiều doanh nghiệp vừa cung cấp suất ăn công nghiệp, vừa phục vụ trường học và bệnh viện. Nếu không kiểm soát kỹ, doanh nghiệp có thể chuyển doanh thu, lợi nhuận sang hoạt động cung cấp suất ăn cho các cơ sở này để được hưởng ưu đãi thuế, dù hoạt động kinh doanh còn phục vụ nhiều nhóm khách hàng khác.

Đại biểu lưu ý, dù quy định miễn thuế chỉ áp dụng đối với phần thu nhập từ cung cấp suất ăn cho trường học, bệnh viện, việc xác định và kiểm soát doanh thu, thu nhập trên thực tế vẫn tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng. Vì vậy, cần có cơ chế quản lý, hậu kiểm hiệu quả và xử lý nghiêm các hành vi không đúng mục tiêu chính sách, vừa bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm, vừa hạn chế thất thu ngân sách nhà nước.

Liên quan đến quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì lợi nhuận tại khoản 5 Điều 15 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, ĐBQH Lê Thị Ngọc Linh (Cà Mau) đề nghị, quy định chặt chẽ tiêu chí xác định cơ sở hoạt động không vì lợi nhuận, bảo đảm ưu đãi đúng đối tượng và mang lại lợi ích thực chất cho người học.

ĐBQH Lê Thị Ngọc Linh (Cà Mau) phát biểu. Ảnh Xuân Quý (2)
ĐBQH Lê Thị Ngọc Linh (Cà Mau) phát biểu. Ảnh: Xuân Quý

Theo đại biểu, cần làm rõ nguyên tắc không phân chia lợi nhuận, không chuyển lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp cho nhà đầu tư dưới bất kỳ hình thức nào. Đồng thời, phải xác định rõ phạm vi thu nhập được miễn thuế/phân biệt giữa thu nhập trực tiếp từ hoạt động giáo dục, đào tạo với thu các khoản thu từ hoạt động kinh doanh khác như thương mại, đầu tư tài chính, cho thuê tài sản. Đối với các khoản thu không trực tiếp phục vụ giáo dục cần được hạch toán riêng và thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định.

Đại biểu cũng đề nghị bổ sung cơ chế kiểm tra, hậu kiểm định kỳ và thu hồi ưu đãi đối với trường hợp vi phạm cam kết hoạt động không vì lợi nhuận hoặc sử dụng thu nhập được miễn thuế sai mục đích. Bên cạnh đó, Chính phủ cần đánh giá tác động của chính sách đối với học phí, chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục của học sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, vùng sâu, vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số. Theo đại biểu, cần tránh tình trạng ngân sách giảm thu nhưng lợi ích chủ yếu thuộc về cơ sở cung cấp dịch vụ, trong khi người học không được hưởng lợi tương xứng.

Đối với quy định miễn thuế đối với thu nhập từ cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại khoản 5a Điều 15 dự thảo Luật, đại biểu Lê Thị Ngọc Linh đề nghị, cơ quan soạn thảo đánh giá kỹ hơn sự cần thiết và tính hiệu quả của chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Theo đại biểu, cần có cơ chế quy định chặt chẽ các điều kiện hưởng ưu đãi, gắn với yêu cầu bảo đảm an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc nguyên liệu và nâng cao chất lượng bữa ăn cho học sinh, người bệnh. Đặc biệt, nếu không có cơ chế ràng buộc và giám sát, chính sách có thể làm giảm thu ngân sách nhưng chưa bảo đảm lợi ích trực tiếp cho người học và người bệnh.

Đại biểu cũng lưu ý, doanh nghiệp thường cung cấp suất ăn cho nhiều nhóm khách hàng nên việc xác định chính xác phần thu nhập được miễn thuế khá phức tạp. Vì vậy, đại biểu cho rằng, cần cân nhắc chưa bổ sung chính sách miễn thuế đại trà khi chưa có đủ căn cứ đánh giá tác động. Trường hợp tiếp tục thực hiện cần quy định rõ điều kiện hưởng ưu đãi, phương pháp hạch toán riêng, trách nhiệm về hóa đơn, chứng từ, vấn đề truy xuất nguồn gốc thực phẩm. Đồng thời, thiết lập cơ chế đánh giá hiệu quả đối với giá suất ăn, chất lượng thực phẩm, bảo đảm lợi ích thực tế đến đúng người học và người bệnh.

Cùng với đó, đại biểu cũng đề nghị đánh giá kỹ sự cần thiết và khả năng thực thi của chính sách miễn thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại khoản 5a Điều 5 dự thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân. Theo đại biểu, việc miễn thuế cần bảo đảm không ảnh hưởng đến chất lượng suất ăn của học sinh và bệnh nhân, đồng thời có tiêu chí đánh giá hiệu quả và lợi ích thực tế đối với người thụ hưởng. Nếu chưa đánh giá đầy đủ tác động, đại biểu cho rằng chưa nên áp dụng miễn thuế đại trà mà cần nghiên cứu kỹ hơn; trường hợp cần thiết, phải quy định cụ thể, rõ ràng để bảo đảm tính khả thi và tránh chồng chéo với các luật khác.

Quy định rõ các trường hợp chịu thuế đất bỏ hoang, sử dụng sai mục đích

Góp ý quy định tại khoản 8 Điều 7 dự thảo Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp về áp dụng thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng, ĐBQH Bùi Thanh Nam (Phú Thọ) đồng tình với mục tiêu chính sách, nhưng cho rằng cần làm rõ mối quan hệ với quy định hiện hành và xem xét lại mức thuế suất.

Theo đại biểu, khoản 6 Điều 7 Luật hiện hành đã quy định thuế suất 0,15% đối với đất chưa sử dụng theo đúng quy định. Nếu không làm rõ phạm vi áp dụng, cùng một thửa đất chậm đưa vào sử dụng có thể bị áp dụng mức thuế 0,15% hoặc 0,2%, tùy cách hiểu của cơ quan thuế. Bên cạnh đó, mức thuế 0,2% chưa tạo khác biệt đáng kể so với mức 0,15% hiện hành, khó tạo động lực thay đổi hành vi sử dụng đất. Trong khi đó, Nghị quyết số 21-NQ/TW đặt ra yêu cầu có chính sách thuế cao hơn đối với đất bỏ hoang. Do đó, đại biểu đồng tình với ý kiến của Ủy ban Kinh tế và Tài chính về việc thiết kế thuế suất tại khoản 8 theo hướng tăng dần theo số năm chậm đưa đất vào sử dụng, đồng bộ với cơ chế lũy tiến của Luật Đất đai. Theo đó, chính sách thuế mới có thể phát huy vai trò điều tiết, hạn chế tình trạng bỏ hoang, găm giữ đất thay vì chỉ tạo thêm chi phí không đáng kể cho người sử dụng đất.

ĐBQH Bùi Thành Nam (Phú Thọ) phát biểu. Ảnh: Xuân Quý
ĐBQH Bùi Thanh Nam (Phú Thọ) phát biểu. Ảnh: Xuân Quý

Cơ bản đồng tình với đề xuất áp dụng thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang theo quy định của dự thảo Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, đại biểu Nguyễn Bình Tân đề nghị phân biệt rõ trường hợp nhà đầu tư cố tình không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng với các trường hợp bất khả kháng, vướng mắc giải phóng mặt bằng hoặc đầu tư theo phân kỳ.

Đại biểu nêu ví dụ, tại các khu công nghiệp, sau khi hoàn thành hạ tầng, một phần diện tích có thể chưa thu hút được doanh nghiệp vào đầu tư. Bên cạnh đó, có những diện tích đất liên quan đến vụ án, bị vướng mắc trong quá trình điều tra kéo dài. Vì vậy, cần làm rõ các trường hợp này có thuộc diện chịu thuế suất 0,2% hay không và xác định trách nhiệm nộp thuế như thế nào, bảo đảm phù hợp thực tế.

Về đất sử dụng không đúng mục đích, dự thảo quy định thuế suất 0,15%, đại biểu cho rằng cần cân nhắc điều chỉnh tăng hoặc áp dụng bằng mức thuế đối với đất bỏ hoang là 0,2%. Theo đại biểu, đất chậm đưa vào sử dụng vẫn còn khả năng được sử dụng đúng mục đích, trong khi đất sử dụng sai mục đích có thể khó khắc phục hơn. Do đó, cần tính toán mức thuế phù hợp để bảo đảm tính răn đe.

Về miễn thuế đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu đồng tình với chủ trương hỗ trợ, song đề nghị quan tâm hơn đến khó khăn khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở để làm nhà. Theo đại biểu, đây mới là vấn đề cần được nghiên cứu, làm rõ trong các quy định hướng dẫn thi hành.

ĐBQH Vũ Tuấn Anh (Phú Thọ) phát biểu. Ảnh: Xuân Quý
ĐBQH Vũ Tuấn Anh (Phú Thọ) phát biểu. Ảnh: Xuân Quý

Đối với thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, ĐBQH Vũ Tuấn Anh (Phú Thọ) cho biết, dự thảo bổ sung quy định thu thuế suất 0,2% đối với đất chưa sử dụng, đất bỏ hoang. Tuy nhiên, theo Luật Đất đai, trường hợp đất bị bỏ hoang quá thời hạn quy định còn có thể phải nộp khoản tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất tăng thêm theo quy định của Chính phủ. Như vậy, cùng một trường hợp có thể phát sinh nhiều nghĩa vụ tài chính, vừa làm tăng độ phức tạp trong thực hiện, vừa gây khó khăn cho công tác kiểm tra, áp dụng.

Từ đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc thiết kế chính sách theo hướng đơn giản, đồng bộ, tránh chồng chéo giữa các khoản thu. Có thể nghiên cứu quy định khoản tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất tăng thêm ở mức phù hợp, đủ sức điều tiết, thay vì đồng thời áp dụng nhiều cơ chế tính thu khác nhau. Về cơ bản, đại biểu đồng tình với chủ trương tăng nghĩa vụ tài chính đối với đất bỏ hoang, chậm đưa vào sử dụng, nhằm bảo đảm mục tiêu quản lý và sử dụng đất hiệu quả.

Trần Tâm