Làm rõ cơ chế ưu đãi, kiểm soát rủi ro trong hoạt động đấu thầu
Thảo luận tại Tổ 1 (Đoàn ĐBQH TP. Hà Nội) về dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi), các đại biểu đề nghị làm rõ nguyên tắc áp dụng ưu đãi, hoàn thiện cơ chế mua sắm sản phẩm công nghệ chiến lược, mua sắm xanh; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ cơ chế tùy chọn mua thêm và tháo gỡ vướng mắc trong thanh toán hợp đồng trọn gói, bảo đảm tính minh bạch, đồng bộ và khả thi của các quy định.
Bảo đảm tính đồng bộ với các luật liên quan
Góp ý dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi), ĐBQH Tạ Đình Thi (TP Hà Nội) đánh giá cao việc dự thảo thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đại biểu tập trung góp ý về nguyên tắc áp dụng ưu đãi, tính đồng bộ với các luật liên quan và cơ chế thúc đẩy tự chủ công nghệ chiến lược, mua sắm xanh.

Về nguyên tắc áp dụng ưu đãi tại Điều 8, đại biểu cho rằng, việc mở rộng đối tượng được hưởng ưu đãi, bao gồm doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và sản phẩm công nghệ chiến lược, là cần thiết. Tuy nhiên, cần bảo đảm sự tương thích giữa chính sách ưu đãi về năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu với yêu cầu thực tế của gói thầu, không làm giảm các điều kiện thiết yếu để thực hiện hợp đồng.
Đồng thời, cần quy định thống nhất cách áp dụng khi một nhà thầu hoặc sản phẩm thuộc nhiều diện ưu đãi, tránh trùng lặp, cộng dồn không hợp lý.
ĐBQH Tạ Đình Thi cũng đề nghị rà soát, bảo đảm tính đồng bộ giữa dự thảo Luật Đấu thầu với các dự án luật liên quan đến điện lực, tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, bảo vệ môi trường đang được trình Quốc hội.
Đối với lĩnh vực điện lực, cần làm rõ cơ chế lựa chọn nhà đầu tư các dự án điện gió ngoài khơi, năng lượng mới; nghiên cứu việc tích hợp các tiêu chí về giá điện, thời hạn hợp đồng mua bán điện trong quá trình lựa chọn nhà đầu tư.
Đối với lĩnh vực tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đại biểu đề nghị thống nhất trình tự, thủ tục và thẩm quyền giao khu vực biển, bảo đảm phù hợp với thời hạn thực hiện dự án, tránh chồng chéo, kéo dài thủ tục. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, các tiêu chí môi trường trong đấu thầu cần được cập nhật phù hợp với định hướng tăng cường hậu kiểm dựa trên dữ liệu, bảo đảm tính khả thi.
Thúc đẩy tự chủ công nghệ chiến lược và mua sắm xanh
Quan tâm đến yêu cầu phát triển công nghệ chiến lược, ĐBQH Tạ Đình Thi đề nghị nghiên cứu bổ sung cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ đối với sản phẩm công nghệ chiến lược. Với những gói thầu mua sắm sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược chỉ có một hoặc một số ít nhà cung cấp trong nước, đại biểu đề xuất xem xét cơ chế lựa chọn nhà thầu phù hợp, trong đó có chỉ định thầu hoặc đàm phán giá theo những điều kiện chặt chẽ, nhằm thúc đẩy tự chủ công nghệ, bảo đảm yêu cầu về an ninh quốc gia.
Cùng với đó, cần cụ thể hóa cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với công nghệ mới, xác định rõ phạm vi, điều kiện và thẩm quyền áp dụng cơ chế đặc thù, phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Về mua sắm xanh, đại biểu cho rằng, hiệu quả của sản phẩm không nên chỉ được đánh giá dựa trên giá mua ban đầu mà cần tính đến chi phí vận hành, tiêu thụ năng lượng và xử lý sau sử dụng trong toàn bộ vòng đời sản phẩm.
Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 29 nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh tế gắn với tác động môi trường, trên cơ sở những chi phí có thể lượng hóa, kiểm chứng và được công bố trong hồ sơ mời thầu.
Đặc biệt, cần phân biệt rõ việc đáp ứng các yêu cầu bắt buộc về môi trường với kết quả bảo vệ môi trường vượt yêu cầu để làm căn cứ áp dụng ưu đãi, tránh tình trạng ưu đãi dựa trên cam kết nhưng thiếu cơ chế giám sát sau khi trúng thầu.
Đại biểu đề nghị giao Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí, điều kiện, phương pháp tính chi phí vòng đời sản phẩm và cơ chế kiểm chứng trong quá trình thực hiện hợp đồng, bảo đảm chính sách mua sắm xanh được triển khai thực chất, khả thi.
Tháo gỡ vướng mắc về hợp đồng trọn gói
Cùng góp ý dự thảo Luật, ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà (TP Hà Nội) tập trung vào hai vấn đề: cơ chế tùy chọn mua thêm và nguyên tắc thanh toán, quyết toán hợp đồng trọn gói.
Đối với cơ chế tùy chọn mua thêm tại điểm h khoản 1 Điều 27, đại biểu cho rằng, quy định này tạo điều kiện để chủ đầu tư chủ động bổ sung hàng hóa, dịch vụ mà không phải tổ chức đấu thầu lại. Tuy nhiên, nếu thiếu giới hạn cụ thể về giá trị, quy mô và điều kiện thực hiện, cơ chế có thể bị lợi dụng, làm giảm tính cạnh tranh, minh bạch trong lựa chọn nhà thầu.
Đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc giá trị tùy chọn mua thêm không vượt quá 30% giá trị gói thầu; nội dung, quy mô, số lượng phải được xác định rõ, đơn giá không vượt đơn giá trúng thầu và thời gian thực hiện không vượt quá thời gian thực hiện hợp đồng.

Đồng thời, kế hoạch lựa chọn nhà thầu cần thể hiện rõ khối lượng, số lượng và giá trị ước tính của phần mua thêm, bảo đảm công khai, minh bạch ngay từ giai đoạn chuẩn bị.
Đối với hợp đồng trọn gói, ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà chỉ ra những vướng mắc kéo dài trong nghiệm thu, thanh toán, quyết toán, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án và giải ngân vốn đầu tư công.
Theo đại biểu, bản chất của hợp đồng trọn gói là quản lý theo kết quả đầu ra, trong đó nhà thầu chịu rủi ro về hao phí, định mức và được hưởng lợi khi tối ưu hóa biện pháp thi công. Tuy nhiên, thực tế có trường hợp khi quyết toán vẫn thực hiện bóc tách dự toán chi tiết, đo đạc lại khối lượng, đối chiếu hóa đơn để xác định lại định mức, dẫn đến phát sinh vướng mắc.
Đại biểu cho rằng, nếu nhà thầu phải chịu rủi ro khi giá nguyên vật liệu tăng nhưng lại không được ghi nhận phần chi phí tiết kiệm hợp lý, sẽ làm giảm động lực nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng, đồng thời gia tăng tâm lý e ngại trách nhiệm của chủ đầu tư.
Từ thực tiễn này, đại biểu đề nghị luật hóa nguyên tắc thanh toán, quyết toán hợp đồng trọn gói tại khoản 1 Điều 39. Theo đó, việc nghiệm thu, thanh toán cần căn cứ vào giá hợp đồng, tiến độ và sản phẩm, khối lượng công việc hoàn thành được nghiệm thu theo yêu cầu hợp đồng.
Đối với những trường hợp không thay đổi phạm vi công việc hoặc thiết kế đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đại biểu đề nghị không xác định lại định mức, đơn giá chi tiết, khối lượng thực tế để điều chỉnh giá hợp đồng trái với bản chất hợp đồng trọn gói.
Đồng thời, cần làm rõ giá trị pháp lý của kết quả thanh toán, quyết toán, bảo đảm thống nhất trong áp dụng pháp luật và hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán theo quy định.
Theo đại biểu, việc hoàn thiện các quy định này sẽ góp phần tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn, giảm tâm lý e ngại trách nhiệm, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và thúc đẩy tiến độ giải ngân đầu tư công.