Thời sự Quốc hội

Không để chậm gửi hồ sơ ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng luật

Diệp Anh; ảnh: Khánh Duy • 23/10/2026 15:24

Thảo luận tại Tổ 10 (Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An và Đồng Tháp) sáng 23/10 về dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật, các đại biểu cho rằng, tình trạng chậm gửi hồ sơ dự án luật đã kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ Quốc hội nhưng chưa được khắc phục hiệu quả. Do đó, các đại biểu đề nghị, làm rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc bảo đảm tiến độ gửi hồ sơ, tài liệu đến các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Rõ trách nhiệm soạn thảo, bảo đảm tiến độ gửi hồ sơ

Góp ý dự án luật, ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) đề nghị rà soát quy định về nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cân nhắc cơ chế điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp cấp bách; đồng thời làm rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc bảo đảm tiến độ gửi hồ sơ, tài liệu đến các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Liên quan đến khoản 7 Điều 5, đại biểu đồng tình với ý kiến trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp về việc cân nhắc không bổ sung quy định xác định một số bộ luật, luật có tính chất nền tảng, có giá trị chi phối, định hướng các văn bản luật còn lại trong hệ thống pháp luật.

1792745840043_6476716141270504663_6476716141270504663_d770e900dddd2dd4e35e70f08686c7d6.jpg
ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) phát biểu

Theo đại biểu, Điều 119 Hiến pháp quy định Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất; mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Trong khi đó, mỗi văn bản luật có phạm vi, đối tượng điều chỉnh riêng. Vì vậy, cần nghiên cứu kỹ quy định về giá trị chi phối, định hướng của một số đạo luật đối với các luật khác, bảo đảm tuân thủ Hiến pháp. Đồng thời, đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ mục đích bổ sung nguyên tắc này và tiêu chí xác định những đạo luật có tính chất nền tảng.

Đối với cơ chế cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp, được đề cập tại khoản 5 Điều 12, khoản 7 Điều 14 và các Điều 48, 49, 50, đại biểu đề nghị tiếp tục cân nhắc kỹ lưỡng. Theo đại biểu, Kết luận số 19 của Đảng mới đặt ra định hướng nghiên cứu cơ chế này, trong khi tài liệu kèm theo hồ sơ dự án luật chưa thể hiện rõ kết quả nghiên cứu và đánh giá tác động làm cơ sở cho việc bổ sung quy định.

1792745842913_6476716141270504663_6476716141270504663_b819f0da15c9fd978293bb955beb47b7.jpg
Các ĐBQH tỉnh Nghệ An tham dự phiên thảo luận tổ

Đặc biệt quan tâm đến trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo tại Điều 66, ĐBQH Trần Nhật Minh phản ánh tình trạng chậm gửi hồ sơ dự án luật đã kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ Quốc hội nhưng chưa được khắc phục hiệu quả. Việc gửi tài liệu chậm ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian nghiên cứu của ĐBQH, nhất là các đại biểu công tác tại địa phương.

Trong khi đó, khoản 4, khoản 5 và khoản 12 Điều 66 mới quy định trách nhiệm của cơ quan trình, cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo và người đứng đầu về tiến độ, chất lượng dự án luật, nhưng chưa làm rõ trách nhiệm cụ thể khi không bảo đảm thời hạn... Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung quy định nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan chủ trì soạn thảo; đồng thời rà soát tính khả thi của thời hạn gửi hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết.

Liên quan đến việc lấy ý kiến hồ sơ chính sách và dự án luật tại khoản 1 Điều 27, khoản 3 Điều 29, đại biểu phản ánh, mặc dù thời hạn trả lời theo quy định là 15 ngày, song trên thực tế có cơ quan soạn thảo chỉ dành thời gian ngắn... "Thời gian quá ngắn khiến các Đoàn ĐBQH khó tổ chức lấy ý kiến của các sở, ngành, địa phương và chuyên gia", đại biểu nhấn mạnh.

1792745846717_6476716141270504663_6476716141270504663_3c1ac205a8083a59bd7cddc4f6473645.jpg
Các ĐBQH tỉnh Đồng Tháp dự phiên thảo luận tại tổ.

Để khắc phục tình trạng này, đại biểu Trần Nhật Minh đề nghị bổ sung quy định ràng buộc cơ quan soạn thảo phải bảo đảm thời hạn lấy ý kiến. Cụ thể, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý, nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân được lấy ý kiến không có văn bản trả lời thì được xem là đồng ý với hồ sơ chính sách hoặc nội dung lấy ý kiến về dự án luật, pháp lệnh. Theo đại biểu, quy định này nhằm tránh tình trạng cơ quan lấy ý kiến tự ấn định thời hạn trả lời quá ngắn, đồng thời bảo đảm trách nhiệm của các bên trong quá trình xây dựng pháp luật.

Cùng quan tâm đến chất lượng chuẩn bị hồ sơ dự án luật, ĐBQH Phan Thị Nguyệt Thu (Nghệ An) cho biết, khoản 1 Điều 34 dự thảo quy định hồ sơ dự án luật và báo cáo thẩm tra phải được gửi đến ĐBQH chậm nhất 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp, trừ các trường hợp được quy định riêng... Tuy nhiên, theo đại biểu, thời hạn này trên thực tế chưa được bảo đảm; có trường hợp sáng hôm sau thảo luận nhưng tối hôm trước đại biểu mới nhận được tài liệu, ảnh hưởng đến thời gian nghiên cứu, chuẩn bị ý kiến.

1792745853007_6476716141270504663_6476716141270504663_cdb0a4f3893f86d9a3b21c204dde105b.jpg
ĐBQH Phan Thị Nguyệt Thu (Nghệ An) phát biểu

Chia sẻ với những khó khăn về tiến độ do yêu cầu kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh trong quản lý nhà nước, đại biểu đề nghị khắc phục tình trạng gửi tài liệu chậm, bảo đảm điều kiện để ĐBQH nghiên cứu kỹ trước khi thảo luận, quyết định.

Đối với điểm c khoản 3 Điều 34, đại biểu đề nghị quy định việc thảo luận tại tổ trước phiên họp toàn thể là một bước trong quy trình xem xét dự án luật, thay vì chỉ quy định “có thể được thảo luận”. Theo đại biểu, đây là hoạt động đã được thực hiện thường xuyên, tạo điều kiện để ĐBQH nghiên cứu, trao đổi và nâng cao chất lượng thảo luận tại hội trường.

Bảo đảm bình đẳng giới, giới hạn thời gian thí điểm chính sách

Cơ bản tán thành sự cần thiết xây dựng dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật, ĐBQH Nguyễn Thanh Cầm (Đồng Tháp) đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định về lồng ghép bình đẳng giới, bảo đảm quyền con người, tính công bằng và văn minh trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

259a8208.jpg
ĐBQH Nguyễn Thanh Cầm (Đồng Tháp) phát biểu.

Theo đại biểu, bảo đảm bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm, nguồn lực và giải pháp giải quyết các vấn đề giới. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung nội dung “bảo đảm bình đẳng giới” vào các nguyên tắc tại Điều 5; đồng thời bổ sung các chính sách về gia đình và bình đẳng giới tại Điều 11 và Điều 14.

Đáng chú ý, đối với Điều 26, đại biểu không đồng tình với việc gộp đánh giá tác động về giới vào đánh giá tác động kinh tế - xã hội. Theo đại biểu, tác động về giới cần được phân tích trên cơ sở cơ hội, điều kiện và khả năng thụ hưởng quyền lợi của mỗi giới. Nếu gộp chung, nội dung này có thể bị xem nhẹ, làm giảm hiệu quả lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng chính sách.

Liên quan đến công tác thẩm định, thẩm tra, đại biểu đề nghị làm rõ cơ quan đầu mối cho ý kiến thẩm định về lồng ghép bình đẳng giới tại Điều 27, tránh phân công chung chung giữa các bộ, ngành, dẫn đến thiếu rõ ràng về trách nhiệm. Đồng thời, cần xác định rõ vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới và trách nhiệm phản biện xã hội của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam theo khoản 5 Điều 30 Luật Bình đẳng giới.

Đối với Điều 32, đại biểu đề nghị bỏ cụm từ “nếu có” trong quy định về hồ sơ dự án luật, pháp lệnh gửi thẩm tra liên quan đến bình đẳng giới. Theo đại biểu, vấn đề giới hiện diện trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội; việc giữ cụm từ này có thể dẫn đến tình trạng cơ quan soạn thảo bỏ qua nội dung bình đẳng giới trong hồ sơ.

Đại biểu cũng đề nghị quy định báo cáo về bình đẳng giới là thành phần bắt buộc trong hồ sơ phục vụ thẩm định, thẩm tra và trình Quốc hội; đồng thời làm rõ quy trình thẩm định, thẩm tra để bảo đảm vấn đề bình đẳng giới được xem xét đầy đủ, thực chất trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Góp ý dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật, ĐBQH Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) tán thành việc đổi tên Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thành Luật Văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời đề nghị hoàn thiện các quy định về thời gian thí điểm chính sách, bổ sung dự án luật vào chương trình kỳ họp và công tác thẩm định.

259a8281.jpg
ĐBQH Phạm Văn Hoà (Đồng Tháp) phát biểu.

Quan tâm đến cơ chế thí điểm chính sách, đại biểu cho rằng nếu thời gian thí điểm là 5 năm và tiếp tục được gia hạn thêm 5 năm thì tổng thời gian 10 năm là quá dài, chưa phù hợp với tính chất thí điểm. Vì vậy, đại biểu đề nghị quy định tổng thời gian thí điểm, kể cả gia hạn, không quá 5 năm; chẳng hạn, thí điểm 3 năm và gia hạn thêm 2 năm nếu cần thiết. Đồng thời, cần tổng kết, đánh giá kết quả thí điểm để kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật không còn phù hợp.

Đối với việc bổ sung dự án luật, nghị quyết vào chương trình kỳ họp Quốc hội, đại biểu đề nghị chỉ thực hiện trong những trường hợp thật sự cần thiết, bảo đảm thời gian chuẩn bị hồ sơ, thẩm tra và nghiên cứu của ĐBQH. Những nội dung chưa cấp thiết cần tiếp tục được hoàn thiện để trình tại kỳ họp sau, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật.

ĐBQH Phạm Văn Hòa cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của công tác thẩm định chính sách, đề nghị cân nhắc việc lược bỏ một số nội dung thẩm định trong dự thảo, bảo đảm chất lượng chính sách trước khi trình Quốc hội xem xét.

Diệp Anh; ảnh: Khánh Duy