Bảo đảm tính thống nhất, khả thi của hệ thống pháp luật
Ngày 23/10, thảo luận tại Tổ 12 (Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ và Cà Mau) về dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật, một số ý kiến cho rằng, cần làm rõ trách nhiệm ban hành văn bản quy định chi tiết, điều kiện ban hành nghị định điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp và mở rộng các quy định về tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, khả thi của hệ thống pháp luật.
Bổ sung nguyên tắc xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất
Góp ý vào dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, ĐBQH Phan Chí Hiếu (Cà Mau) đánh giá, dự án luật đã có nhiều nội dung, tư tưởng mới nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách tại Nghị quyết số 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và cái Kết luận số 09 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định trọng tâm. Trong đó, cần làm rõ khái niệm quy phạm pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật; rà soát, xác định lại các nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản; đồng thời, mở rộng phạm vi điều chỉnh, bổ sung các quy định thực chất về tổ chức thi hành pháp luật.

Theo ĐBQH Phan Chí Hiếu, trong bối cảnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tinh giản theo hướng mỗi chủ thể có thẩm quyền chỉ ban hành một hình thức văn bản quy phạm pháp luật, việc nhận diện chính xác quy phạm pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật càng có ý nghĩa quan trọng. Điều này giúp phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với các loại văn bản khác do cùng cơ quan, chủ thể ban hành. Đại biểu đề nghị, cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, làm rõ khái niệm quy phạm pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật, trong đó cần bổ sung tiêu chí về tính áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần. Theo đại biểu, đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt quy phạm pháp luật với các quy định mang tính hành chính chỉ áp dụng cho một đối tượng hoặc một nhóm đối tượng cụ thể, trong một trường hợp nhất định.
Đại biểu cũng lưu ý, nếu chỉ căn cứ vào việc văn bản có chứa quy phạm pháp luật để xác định đó là văn bản quy phạm pháp luật thì có thể bao hàm cả những văn bản hành chính có chứa các quy định mang tính quy phạm do vô tình, cố ý hoặc do hạn chế về nhận thức của người soạn thảo. Thực tế, tình trạng văn bản hành chính có chứa quy phạm pháp luật vẫn xảy ra khá phổ biến. Do đó, cần có cách tiếp cận đầy đủ hơn trong định nghĩa để phân biệt rõ hai loại văn bản, tránh những bất cập trong quá trình áp dụng Luật.

Về các nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ĐBQH Phan Chí Hiếu cho rằng, dự thảo đang quy định quá nhiều nguyên tắc, trong khi một số nội dung chưa thực sự mang tính nguyên tắc chi phối toàn bộ quá trình xây dựng, hoàn thiện, ban hành và tổ chức thi hành pháp luật. Theo đại biểu, những vấn đề như tăng cường chuyển đổi số chủ yếu là công cụ phục vụ quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, không nên đồng nhất với nguyên tắc. Một số quy định liên quan đến tổ chức thi hành pháp luật hiện được đề cập rải rác ở nhiều khoản khác nhau cũng cần được nghiên cứu, sắp xếp lại thành nguyên tắc chung để bảo đảm tính hệ thống.
Trong khi đó, dự thảo lại chưa thể hiện đầy đủ những nguyên tắc quan trọng đối với chất lượng của hệ thống pháp luật. Đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung nguyên tắc xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, minh bạch, có tính cạnh tranh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Đại biểu nhấn mạnh, đây phải là nguyên tắc có tính chi phối đối với toàn bộ quá trình xây dựng pháp luật. Trong bối cảnh hiện nay, việc nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật cần được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm các quy định không chỉ được xây dựng tốt mà còn có thể triển khai hiệu quả trong thực tiễn.
Bảo đảm văn bản quy định chi tiết được ban hành đúng thời điểm
Qua nghiên cứu dự thảo luật, ĐBQH Đặng Bích Ngọc (Phú Thọ) cho biết, một trong các điểm mới của dự thảo luật là bổ sung quy định về thứ bậc hiệu lực pháp lý của các văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo hướng liệt kê các văn bản quy phạm pháp luật theo thứ bậc “từ cao đến thấp”, từ 1 đến 12 (Điều 4).

Thống nhất cao với việc bổ sung quy định này nhằm tạo thuận lợi trong việc áp dụng pháp luật, tuy nhiên, đại biểu đề nghị, ban soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, bổ sung nguyên tắc áp dụng trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có cùng thứ bậc hiệu lực pháp lý, do các chủ thể khác nhau ban hành nhưng có quy định khác nhau về cùng một vấn đề.
Đồng thời, đối với trường hợp bổ sung quy định cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật để “điều chỉnh quy định của luật”, cần làm rõ thứ bậc hiệu lực pháp lý của các văn bản này. Theo đại biểu, việc quy định rõ các nội dung trên sẽ góp phần hạn chế tình trạng chồng chéo, tạo thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật trên thực tế.
Quan tâm đến điểm b khoản 1, Điều 8 về quy định “b) quy định chi tiết phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc hiệu lực của điều, khoản, điểm giao quy định chi tiết, trừ văn bản hoặc điều, khoản, điểm giao quy định chi tiết có quy định khác.”
Đại biểu đề nghị, tiếp tục xem xét quy định này, bởi nếu cơ quan có thẩm quyền chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, người dân và doanh nghiệp có thể phải chờ đợi dù đã đáp ứng các điều kiện được quy định trong luật. Khi giao quy định chi tiết, cần xác định rõ nội dung nào có thể áp dụng trực tiếp, nội dung nào chỉ có thể thực hiện sau khi có văn bản quy định chi tiết.
Trường hợp cho phép văn bản quy định chi tiết có hiệu lực muộn hơn, đại biểu đề nghị quy định cơ chế chuyển tiếp ngay trong văn bản giao quy định chi tiết; đồng thời, công khai cơ quan chịu trách nhiệm, tiến độ và lý do chậm ban hành, cũng như xác định trách nhiệm của người đứng đầu.

Cho ý kiến về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành nghị định điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp được (Điều 50), đại biểu Đặng Bích Ngọc đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ tiêu chí xác định “vấn đề cấp bách”, giải thích cụ thể thuật ngữ này để có cơ sở triển khai thực hiện.
Đồng thời, cần tiếp tục nghiên cứu, quy định rõ nguyên tắc, điều kiện áp dụng và giới hạn phạm vi điều chỉnh, bảo đảm cơ chế này chỉ được sử dụng trong những trường hợp thực sự đặc biệt, khẩn cấp, cấp bách và có chỉ đạo của cấp có thẩm quyền. Dự thảo cũng cần quy định cụ thể hơn về trách nhiệm, nội dung báo cáo Quốc hội và phương án xử lý các vấn đề phát sinh, nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật.