Thời sự Quốc hội

Cán bộ phải đối chiếu nhiều văn bản pháp luật để thực hiện một nhiệm vụ

Đan Thanh; Ảnh: Quang Khánh • 23/10/2026 14:20

Để thực hiện một nhiệm vụ, cán bộ cấp tỉnh, xã phải tra cứu, đối chiếu hàng loạt luật, nghị định, thông tư và văn bản hướng dẫn. Khối lượng văn bản lớn, thời gian và khả năng khai thác dữ liệu hạn chế khiến việc nắm bắt đầy đủ các quy định gặp khó khăn. Từ thực tế này, đại biểu đề nghị hoàn thiện quy định về hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, giúp cán bộ và người dân dễ tra cứu, áp dụng.

Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang Lê Thị Kim Dung
Toàn cảnh phiên thảo luận ở Tổ 14 sáng 23/10

Chồng chéo văn bản gây khó khăn khi áp dụng

Thảo luận tại Tổ 14 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh Đắk Lắk và Tuyên Quang) sáng 23/10, ĐBQH Nguyễn Hoàng Giang (Đắk Lắk) cho rằng, thực tiễn hiện nay cho thấy việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều vướng mắc do phải đối chiếu quá nhiều văn bản khi thực hiện một nhiệm vụ, nhất là trong các lĩnh vực tài chính, nông nghiệp và môi trường, thi đua, khen thưởng…

Theo đại biểu, để thực hiện một nhiệm vụ ở cấp tỉnh, cấp xã, cán bộ phải đối chiếu nhiều quy định, từ nghị quyết của Quốc hội, nghị định của Chính phủ đến thông tư và các văn bản hướng dẫn của bộ, ngành.

Trong khi đó, khối lượng văn bản quá lớn, thời gian và khả năng khai thác dữ liệu có hạn khiến cán bộ khó nắm bắt đầy đủ các quy định. Có trường hợp đã thực hiện theo luật, nghị định, thông tư nhưng chỉ thiếu một văn bản hướng dẫn cũng có thể bị thanh tra, kiểm toán hoặc cơ quan công an kinh tế xem xét, xử lý.

004(1).jpg
ĐBQH Nguyễn Hoàng Giang (Đắk Lắk) phát biểu

Đại biểu cho rằng, điều này gây thiệt thòi cho cán bộ địa phương, bởi sai sót có thể xuất phát từ việc quy định quá nhiều, không thể nghiên cứu và nắm bắt hết, chứ không phải do cố tình làm sai. Vì vậy, việc sửa đổi Luật Văn bản quy phạm pháp luật cần hướng tới xây dựng một luật khung, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống văn bản pháp luật.

Cũng theo đại biểu Nguyễn Hoàng Giang, vừa qua, Quốc hội và Chính phủ đã có chủ trương rất quan trọng là nhất thể hóa toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật về Chương trình mục tiêu quốc gia; điều này khiến các địa phương rất phấn khởi. Đây là việc làm tích cực và nếu Luật Văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi căn cơ, các địa phương sẽ thuận lợi hơn trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực, đại biểu tin tưởng.

Góp ý cụ thể, đại biểu Nguyễn Hoàng Giang đề nghị hoàn thiện Điều 9 và Điều 62 dự thảo Luật, bảo đảm các văn bản pháp luật được sửa đổi đồng bộ, thống nhất, tránh chồng chéo.

Theo đại biểu, văn bản của các bộ, ngành về cùng một vấn đề vẫn có nội dung chồng chéo, khiến địa phương khó tổ chức thực hiện. Một dự án có thể đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều luật như Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp… nên việc áp dụng quy định của luật này có thể chưa phù hợp với luật khác.

Đại biểu đề nghị nhất thể hóa các quy định giữa những luật có liên quan, đồng thời thống nhất toàn bộ văn bản dưới luật để địa phương, cán bộ, công chức và người dân thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện.

Liên quan đến việc tra cứu, đại biểu Nguyễn Hoàng Giang đề nghị hoàn thiện Điều 63 dự thảo Luật về hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, giúp người dân và cán bộ dễ tra cứu, dễ áp dụng.

Theo đại biểu, cần có địa chỉ tra cứu cụ thể để thuận tiện khai thác, quản lý và sử dụng văn bản; đồng thời, khi soạn thảo luật, phải bảo đảm sự đồng bộ giữa các luật cùng điều chỉnh một nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ.

Đại biểu cũng cho rằng, năm 2026 được Quốc hội xác định là năm cơ bản hoàn chỉnh hệ thống pháp luật. Vì vậy, khi thông qua Luật Văn bản quy phạm pháp luật, cần bảo đảm đồng bộ các quy định để các luật cùng giải quyết một nội dung có hướng dẫn thống nhất, giúp các tỉnh, xã triển khai hiệu quả chủ trương của Đảng, đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Không đồng nhất nhu cầu điều hành nhanh với thẩm quyền điều chỉnh luật

ĐBQH Hoàng Ngọc Định (Tuyên Quang) đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét hết sức thận trọng cơ chế ban hành pháp lệnh, nghị định điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp Quốc hội không thể họp, được quy định tại Điều 12, Điều 14 và đặc biệt là các điều từ Điều 48 đến Điều 51.

Theo dự thảo, khoản 5 Điều 12 và khoản 7 Điều 14 quy định cơ chế để Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh hoặc Chính phủ ban hành nghị định điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp.

Điều 48 quy định các điều kiện áp dụng, trong đó có việc được cấp có thẩm quyền đồng ý và có văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc Quốc hội không thể họp. Điều 49 và Điều 50 quy định trình tự riêng và trách nhiệm báo cáo Quốc hội.

ĐBQH Hoàng Ngọc Định (Tuyên Quang)
ĐBQH Hoàng Ngọc Định (Tuyên Quang) phát biểu

Đại biểu Hoàng Ngọc Định cho rằng, cơ chế này nhằm xử lý kịp thời những tình huống thực sự cấp bách. Tuy nhiên, việc cho phép pháp lệnh, nghị định điều chỉnh quy định của luật là cơ chế pháp lý đặc biệt, tác động trực tiếp đến nguyên tắc phân định thẩm quyền lập pháp, lập quy và thứ bậc hiệu lực văn bản. Vì vậy, cần làm rõ cơ sở hiến định, giới hạn nội dung, điều kiện áp dụng và cơ chế kiểm soát; không thể đồng nhất nhu cầu điều hành nhanh với thẩm quyền điều chỉnh luật.

Đại biểu kiến nghị quy định cụ thể tiêu chí xác định trường hợp Quốc hội không thể họp và tính chất khẩn cấp, cấp bách; giới hạn nội dung được điều chỉnh, bảo đảm không làm thay đổi các vấn đề cơ bản thuộc thẩm quyền của Quốc hội hoặc làm giảm các bảo đảm hiến định về quyền con người, quyền công dân.

Cùng với đó, cần làm rõ cơ sở phân chia thẩm quyền theo tiêu chí văn bản do Chính phủ trình hoặc không do Chính phủ trình. Theo đại biểu, một đạo luật sau khi được Quốc hội thông qua có giá trị pháp lý không phụ thuộc vào chủ thể trình dự án. Đồng thời, cần thống nhất phạm vi và thuật ngữ giữa cụm từ “văn bản của Quốc hội” tại khoản 1 Điều 48 với “quy định của luật” tại khoản 5 Điều 12 và khoản 7 Điều 14, tránh cách diễn đạt và cách hiểu khác nhau.

Về Điều 51, đại biểu đề nghị chỉnh lý quy định về thời hạn hiệu lực. Khoản 1 giới hạn thời gian hiệu lực của pháp lệnh, nghị định điều chỉnh quy định của luật không quá 1 năm, nhưng khoản 2 lại cho phép văn bản tiếp tục có hiệu lực nếu Quốc hội vẫn không thể họp, cho đến khi Quốc hội ban hành luật để xử lý.

Đại biểu Hoàng Ngọc Định cũng đề nghị bổ sung điều kiện duy trì hiệu lực, cơ chế báo cáo và giám sát định kỳ, trách nhiệm công khai tình trạng áp dụng theo phạm vi pháp luật cho phép và cơ chế để Quốc hội xem xét, quyết định ngay khi có điều kiện. Theo đại biểu, cần bảo đảm cơ chế đặc biệt chỉ có tính tạm thời, không trở thành phương thức thay thế kéo dài thẩm quyền lập pháp của Quốc hội.

Đan Thanh; Ảnh: Quang Khánh