Phát triển thị trường đa kênh để mở rộng đầu ra cho hàng Việt
Chuyển đổi số mở ra cơ hội tiếp cận khách hàng, đa dạng hóa thị trường tiêu thụ hàng Việt; tuy nhiên, theo các chuyên gia, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực quản trị, kết nối hệ thống phân phối và logistics để chuyển cơ hội từ công nghệ thành hiệu quả kinh doanh thực chất.
Chuyển đổi số mở ra cơ hội đa dạng hóa thị trường
Tại hội thảo “Phát triển thị trường đa kênh - Giải pháp mở rộng đầu ra bền vững cho hàng hóa Việt Nam”, do Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương tổ chức chiều 22/10, Phó Cục trưởng Lê Hoàng Tài cho rằng, sự thay đổi trong phương thức giao thương và hành vi mua sắm đang đặt ra yêu cầu đổi mới đối với doanh nghiệp. Trong khi hệ thống bán lẻ hiện đại tiếp tục giữ vai trò quan trọng, thương mại điện tử xuyên biên giới và các nền tảng mạng xã hội ngày càng tác động mạnh đến hành vi tiêu dùng. Do đó, doanh nghiệp cần kết nối các kênh phân phối truyền thống với nền tảng số để tối ưu chi phí, mở rộng khả năng tiếp cận khách hàng và duy trì sức cạnh tranh.
.jpg)
Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn gặp khó khăn trong xây dựng hệ thống công nghệ đồng bộ, quản trị dữ liệu khách hàng, tổ chức logistics và triển khai chiến lược bán hàng.
Dẫn kết quả khảo sát 1.300 doanh nghiệp năm 2022, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Việt Nam Bùi Quang Tuấn cho biết, hơn 60% doanh nghiệp được khảo sát coi chi phí là trở ngại lớn nhất trong chuyển đổi số; 45,4% thiếu nhân lực nội bộ và 40,4% gặp khó khăn khi thay đổi thói quen kinh doanh. Hạn chế về hạ tầng công nghệ, thông tin thị trường và khả năng kết nối chuỗi cung ứng cũng là những rào cản đáng kể.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số, ông Tuấn nhận định chuyển đổi số có thể giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng khả năng ứng phó với biến động. Việc phát triển các kênh bán hàng mới cũng tạo điều kiện giảm phụ thuộc vào một số đối tác hoặc thị trường truyền thống. Chẳng hạn, thị trường Halal với quy mô khoảng 1,4 tỷ người còn nhiều dư địa, nhưng hàng hóa Việt Nam chưa khai thác tương xứng do những khác biệt về văn hóa và yêu cầu tiếp cận thị trường. Vì vậy, doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ nhu cầu, đặc điểm từng thị trường và chủ động tìm kiếm các kênh tiêu thụ phù hợp.
Tuy nhiên, theo ông Tuấn, đa dạng hóa kênh bán hàng không đơn thuần là mở thêm gian hàng trực tuyến. Doanh nghiệp có thể đầu tư công nghệ nhưng chưa đủ năng lực khai thác; tăng chi phí tiếp thị trực tuyến nhưng khâu giao nhận, xử lý đơn hàng còn yếu; doanh thu từ kênh số tăng nhưng lợi nhuận chưa chắc cải thiện. Việc giảm phụ thuộc vào trung gian truyền thống cũng có thể dẫn đến phụ thuộc vào một nền tảng số. Do đó, doanh nghiệp cần chuyển trọng tâm từ ứng dụng công nghệ sang nâng cao năng lực khai thác công nghệ, lấy hiệu quả kinh doanh và khả năng quản trị rủi ro làm thước đo.
Kết nối hệ thống phân phối, giảm chi phí cho doanh nghiệp
Từ góc độ phát triển thị trường trong nước, Phó Chánh văn phòng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương Nguyễn Ngọc Tâm đề xuất phát triển hạ tầng thương mại theo nhu cầu từng vùng, rà soát những khoảng trống trong mạng lưới chợ, chợ đầu mối, siêu thị, trung tâm thương mại và điểm bán hàng Việt, nhất là ở nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo. Hạ tầng phân phối cần gắn với kho bãi, bảo quản, giao nhận và vận tải để bảo đảm nguồn hàng ổn định, chi phí hợp lý. Cùng với đó, cần tăng cường kết nối cung - cầu dựa trên đơn hàng và tiêu chuẩn đầu vào; phối hợp xác định yêu cầu về chất lượng, bao bì, khối lượng, lịch giao hàng và kết nối trực tiếp nhà sản xuất với bộ phận thu mua của các nhà phân phối.
Bà Tâm cũng nhấn mạnh việc liên thông giữa điểm bán vật lý và kênh số. Thay vì đầu tư thêm các ứng dụng riêng lẻ, cần hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh quản lý thông tin sản phẩm, tồn kho, đơn hàng, thanh toán và chăm sóc khách hàng trên hệ thống đồng bộ. Đối với các cơ sở sản xuất nhỏ, khó khăn không chỉ là tìm khách hàng mà còn ở khả năng đáp ứng quy mô đơn hàng, quy cách sản phẩm và nhịp độ cung ứng. Vì vậy, cần khuyến khích dịch vụ gom hàng, bảo quản, vận chuyển chung; kết nối sản phẩm OCOP, nông sản và hàng công nghiệp nông thôn với mạng lưới bán lẻ phù hợp để giảm chi phí tiếp cận thị trường.
Ngoài ra, đại diện Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đề xuất nghiên cứu thí điểm cơ chế phối hợp tại một số địa phương, kết hợp rà soát nhu cầu hàng hóa và khoảng trống hạ tầng phân phối, kết nối nhà cung ứng với hệ thống bán lẻ và dịch vụ logistics. Hiệu quả cần được đánh giá thông qua hợp đồng, doanh số, đơn hàng lặp lại, chi phí giao hàng và phản hồi của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, cần củng cố niềm tin thị trường, bảo đảm chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, an toàn thực phẩm và quyền lợi người tiêu dùng; xử lý hàng giả, hàng nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc theo thẩm quyền, bảo vệ doanh nghiệp kinh doanh chân chính mà không tạo thêm chi phí tuân thủ không cần thiết.
Ở góc độ chuyển đổi số, ông Bùi Quang Tuấn đề xuất xây dựng và khai thác hiệu quả dữ liệu khách hàng, thị trường; đẩy mạnh marketing số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tiếp cận khách hàng tiềm năng; phát triển logistics số và thương mại điện tử xuyên biên giới. Việc hỗ trợ doanh nghiệp cần chuyển từ các hoạt động riêng lẻ sang hỗ trợ theo chuỗi giá trị, kết nối nhà sản xuất, nhà phân phối, đơn vị logistics và nền tảng số. Đồng thời, cần phát triển các nền tảng, phần mềm và dịch vụ dùng chung để giảm chi phí tiếp cận công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã.
Cũng theo ông Tuấn, hiệu quả chuyển đổi số không nên chỉ đo bằng số doanh nghiệp tham gia hay số gian hàng được mở, mà phải căn cứ vào khả năng tiếp cận khách hàng mới, mở rộng thị trường, cải thiện doanh thu, lợi nhuận và nâng cao tính tự chủ của doanh nghiệp.
Về phía cơ quan quản lý, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại Lê Hoàng Tài cho biết sẽ tiếp tục đẩy mạnh liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành hàng và các nền tảng số; kết hợp cung cấp thông tin thị trường, nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ với tổ chức các hoạt động kết nối giao thương trực tiếp và trực tuyến, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng đầu ra cho hàng hóa Việt Nam.