Sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai, bảo đảm quyền lợi người dân
Thảo luận tại Tổ 4 (Đoàn ĐBQH TP. Đồng Nai và các tỉnh Quảng Trị, Điện Biên) ngày 22/10 về dự án Luật Đất đai (sửa đổi), các ĐBQH tỉnh Quảng Trị đề nghị đẩy nhanh xử lý đất nông, lâm trường, ưu tiên đất sản xuất cho người dân; có quy định riêng đối với đất vườn, ao trong khu dân cư và bảo đảm chính sách hỗ trợ đến đúng đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) thiếu đất ở, đất sản xuất.
Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị TRẦN VŨ KHIÊM:
Ấn định thời hạn xử lý đất nông, lâm trường, ưu tiên đất sản xuất cho người dân
Qua nghiên cứu hồ sơ dự án Luật Đất đai (sửa đổi), tôi đánh giá cao tinh thần cầu thị, trách nhiệm của Chính phủ và cơ quan chủ trì soạn thảo. Từ thực tiễn địa phương, tôi đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định về xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường quốc doanh, phân cấp thẩm quyền quản lý đất đai và cải cách thủ tục hành chính.

Tại Quảng Trị, 8 công ty nông, lâm nghiệp đang quản lý hơn 142.000 ha đất. Mặc dù tỉnh đã phê duyệt phương án sắp xếp, bàn giao về địa phương hơn 4.600 ha, nhưng tình trạng tranh chấp, lấn chiếm, chồng lấn ranh giới vẫn phức tạp. Trong khi người dân, nhất là đồng bào DTTS, thiếu đất sản xuất thì đất nông, lâm trường còn bị bao chiếm, sử dụng kém hiệu quả.
Để tháo gỡ tình trạng này, tôi đề nghị hoàn thiện Điều 83 dự thảo Luật theo hướng ấn định thời hạn cụ thể, từ 12 đến 18 tháng, để các công ty nông, lâm nghiệp hoàn thành rà soát, đo đạc, cắm mốc ranh giới và lập phương án sử dụng đất. Quá thời hạn mà không hoàn thành, Nhà nước cần kiên quyết thu hồi toàn bộ diện tích không sử dụng, sử dụng sai mục đích hoặc giao khoán trái phép để bàn giao về địa phương.
Đối với đất bàn giao về địa phương, không nhất thiết phải lập phương án sử dụng đất riêng mà thực hiện quản lý, giao đất, cho thuê đất trực tiếp theo quy hoạch. Tôi cũng đề nghị bỏ quy định tại khoản 5 Điều 83 về việc giao UBND cấp tỉnh ban hành thêm quy định chi tiết riêng, tránh phát sinh thủ tục hành chính... Đồng thời, cần quy định ngay trong Luật việc ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí rà soát, đo đạc, lập bản đồ địa chính và cắm mốc ranh giới đất nông, lâm trường, khắc phục tình trạng địa phương “nhận bàn giao đất trên giấy” do thiếu kinh phí đo đạc thực địa.
Đặc biệt, quỹ đất thu hồi bàn giao về địa phương phải được ưu tiên giao đất sản xuất cho đồng bào DTTS, hộ nghèo thiếu đất tại chỗ theo Điều 15 dự thảo Luật. Đối với hộ gia đình đã canh tác ổn định lâu đời, phù hợp quy hoạch, cần phân loại, xem xét công nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) để người dân ổn định sinh kế, gắn bó với công tác bảo vệ rừng.
Về phân cấp thẩm quyền quản lý đất đai tại Điều 18, tôi đánh giá cao việc dự thảo đã phân định thẩm quyền giữa UBND cấp tỉnh và UBND cấp xã. Tuy nhiên, cần tính đến năng lực thực thi của cấp cơ sở, nhất là khi đội ngũ công chức địa chính cấp xã còn mỏng.
Theo tôi, cấp tỉnh cần giữ thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức, dự án đầu tư và dự án liên xã. Trong đó, những vấn đề về chủ trương, chính sách thuộc thẩm quyền tập thể UBND cấp tỉnh; còn quyết định hành chính cá biệt nên giao Chủ tịch UBND cấp tỉnh để đề cao trách nhiệm cá nhân, đẩy nhanh tiến độ giải quyết.
Cấp xã chỉ nên đảm nhiệm những thẩm quyền trực tiếp phục vụ dân sinh như giao đất ở trong hạn mức, công nhận QSDĐ cho cá nhân, hòa giải tranh chấp và quản lý cho thuê ngắn hạn quỹ đất công ích dôi dư. Chỉ cho phép UBND cấp tỉnh phân cấp thẩm quyền thu hồi đất phức tạp cho cấp xã khi địa phương đáp ứng đủ điều kiện về tổ chức bộ máy và hạ tầng cơ sở dữ liệu số.
Về cải cách thủ tục hành chính, tôi đánh giá cao khoản 6 Điều 18 dự thảo đã bổ sung nguyên tắc cơ quan nhà nước không được yêu cầu nộp hồ sơ giấy đối với thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu đất đai. Tuy nhiên, cần bổ sung quy định Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành khung chuẩn thủ tục hành chính liên thông áp dụng thống nhất trên toàn quốc.
Đặc biệt, cần khắc phục tình trạng người dân muốn tách thửa, hợp thửa phải thực hiện tuần tự các thủ tục đo đạc, cấp đổi Giấy chứng nhận rồi mới được nộp hồ sơ tách thửa, hợp thửa. Tôi đề nghị các khâu này phải được liên thông, xử lý đồng thời trên môi trường điện tử.
Về tổ chức thi hành Luật, tôi đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành khẩn trương hoàn thiện đồng bộ các nghị định hướng dẫn, bảo đảm Luật Đất đai (sửa đổi) và các văn bản quy định chi tiết cùng có hiệu lực từ năm 2027, không để xảy ra khoảng trống pháp lý hoặc tình trạng “luật chờ nghị định”.
ĐBQH NGUYỄN MINH TÂM:
Xem xét hỗ trợ đồng bào DTTS không thuộc hộ nghèo, cận nghèo nhưng thiếu đất ở, đất sản xuất
Về chính sách đất đai đối với đồng bào DTTS tại Điều 15 dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), qua khảo sát của Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị, địa phương có 4.383 hộ đồng bào DTTS nghèo, cận nghèo thiếu đất ở và 6.599 hộ thiếu đất sản xuất. Nhu cầu hỗ trợ còn rất lớn, trong khi nhiều địa bàn không còn quỹ đất phù hợp để bố trí, nhất là khi số hộ tăng lên do tách hộ.

Khoản 2 Điều 15 quy định hỗ trợ đất đai lần đầu cho cá nhân là người DTTS thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo. Tôi đề nghị nghiên cứu bổ sung cơ chế xem xét hỗ trợ đối với người DTTS không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo tại thời điểm rà soát nhưng thực tế chưa có đất ở, đất sản xuất, chưa được hưởng chính sách lần đầu hoặc đã thoát nghèo nhưng vẫn thiếu điều kiện sinh kế. Việc mở rộng đối tượng cần có tiêu chí cụ thể, công khai, bảo đảm hỗ trợ đúng người, tránh trùng lặp chính sách.
Tôi cũng đề nghị bổ sung cụm từ “hộ gia đình, cá nhân” vào khoản 2 Điều 15 hoặc quy định rõ cơ chế cử người đại diện hộ gia đình đứng tên nhận hỗ trợ. Bởi thực tiễn đời sống của đồng bào Vân Kiều, Pa Cô tại Quảng Trị gắn với nếp sống nhiều thế hệ trong một gia đình, đất đai thường được xem là tài sản chung. Việc chỉ xác định cá nhân thụ hưởng có thể gây lúng túng khi xác lập quyền tài sản và tổ chức thực hiện.
Về nguồn lực thực hiện, tôi đề nghị bổ sung vào khoản 5 Điều 15 nguyên tắc ngân sách trung ương phân bổ khoản kinh phí riêng hỗ trợ các địa phương không tự cân đối được thu, chi ngân sách. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm rà soát, lập kế hoạch tạo quỹ đất và xác định nguồn lực thực hiện. Trường hợp không còn quỹ đất phù hợp, cần có giải pháp thay thế như hỗ trợ sinh kế, chuyển đổi nghề nghiệp, đào tạo nghề, tiếp cận vốn sản xuất hoặc bố trí đất tại địa bàn khác theo nguyện vọng của người dân và điều kiện thực tế.
Liên quan đến khoản 4 Điều 21 về công chứng, chứng thực hợp đồng thực hiện QSDĐ, tôi đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát để bảo đảm tính thống nhất, khả thi, tránh lúng túng khi triển khai thực hiện.
Đối với Điều 36, tôi đồng tình với cơ chế thu tiền sử dụng đất bổ sung theo hướng lũy tiến đối với đất chậm đưa vào sử dụng và tiến tới thu hồi nếu quá thời hạn quy định, nhằm chống đầu cơ, lãng phí. Tuy nhiên, cần phân biệt hành vi cố tình giữ đất với trường hợp dự án chậm tiến độ do vướng mắc giải phóng mặt bằng hoặc thủ tục hành chính không thuộc lỗi của nhà đầu tư.
Vì vậy, tôi đề nghị bổ sung vào khoản 8 Điều 36 các trường hợp loại trừ, làm rõ khái niệm “thời gian bất khả kháng”. Theo đó, thời gian chậm trễ do lỗi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong giải quyết thủ tục hành chính hoặc do chưa hoàn tất giải phóng mặt bằng không thuộc lỗi của nhà đầu tư không được tính vào thời gian chậm tiến độ để áp dụng khoản thu tăng thêm. Quy định này vừa chống lãng phí đất đai, vừa tránh chuyển rủi ro thủ tục hành chính sang doanh nghiệp.
Đối với Điều 58, tôi lựa chọn phương án 1 tại khoản 1 và khoản 4. Nếu giới hạn dự án nhà ở thương mại chỉ được thỏa thuận nhận QSDĐ đối với đất ở hoặc đất ở và đất khác như phương án 2, sẽ thu hẹp cơ hội tiếp cận quỹ đất của nhà đầu tư, nhất là tại những địa phương có nhu cầu mở rộng đô thị nhưng diện tích đất ở hiện trạng thấp. Lựa chọn phương án 1 phù hợp với tinh thần kiến tạo phát triển, tháo gỡ các điều kiện bất hợp lý và tăng cường sử dụng công cụ kinh tế để điều tiết thị trường... Đối với Điều 108, tôi cũng lựa chọn phương án 1.
ĐBQH NGUYỄN NGỌC HÀ:
Cần có quy định riêng đối với đất vườn, ao trong khu dân cư
Nhất trí với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhất là quan điểm lấy người dân làm trung tâm, thể hiện qua quy định chỉ cưỡng chế thu hồi đất sau khi đã bố trí tái định cư, song tôi đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định về phân loại đất, bảo đảm quyền lợi người sử dụng đất và yêu cầu quốc phòng, an ninh.

Từ thực tiễn, tôi đặt câu hỏi: Mảnh vườn ghi trong Giấy chứng nhận QSDĐ của gia đình sẽ được xác định là loại đất gì? Đất vườn trong khu dân cư, cùng thửa hoặc liền kề với đất ở, không đơn thuần là đất trồng cây lâu năm phục vụ sản xuất nông nghiệp mà còn gắn với sinh kế, nơi ở và nhu cầu làm nhà cho con cháu... Nếu áp dụng chung một chế độ quản lý, người dân có thể chịu thiệt về thời hạn sử dụng, giá trị bồi thường và quyền thừa kế, tặng cho.
Theo khoản 1 Điều 9, dự thảo phân đất nông nghiệp thành đất canh tác, đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp khác. Trong khi đó, Điều 3 chưa giải thích rõ các khái niệm “đất canh tác”, “đất trồng cây khác”, “đất nông nghiệp khác”, “đất phi nông nghiệp khác”. Điều này có thể khiến diện tích vườn hiện ghi là “đất trồng cây lâu năm” trên Giấy chứng nhận bị xếp chung vào nhóm đất trồng cây khác hoặc đất nông nghiệp khác, gây khó khăn khi xác định loại đất và chuyển mục đích sử dụng sang đất ở.
Tôi đề nghị giải thích các khái niệm trên theo phương pháp liệt kê, chỉ sử dụng loại đất “khác” khi không thuộc loại đất đã được xác định cụ thể; đồng thời bổ sung tên gọi riêng cho đất vườn, ao trong cùng thửa hoặc liền kề với đất ở, phân biệt với đất trồng cây lâu năm phục vụ sản xuất.
Đối với đất vườn, ao trong khu dân cư, tôi đề nghị có quy định riêng theo hướng sử dụng ổn định lâu dài như đất ở, tạo thuận lợi cho thừa kế, tặng cho, tách thửa; cho phép chuyển mục đích sang đất ở với điều kiện đơn giản, nghĩa vụ tài chính hợp lý. Khi Nhà nước thu hồi, cần có chính sách bồi thường, hỗ trợ tương xứng với giá trị thực tế, không áp dụng như đất sản xuất thông thường.
Đối với thửa đất có vườn, ao hình thành từ trước, tôi đề nghị quy định ngay trong Luật nguyên tắc xác định lại diện tích đất ở trên cơ sở kế thừa pháp luật hiện hành, không giao hoàn toàn cho văn bản dưới luật như tại khoản 11 Điều 65. Đồng thời, bổ sung vào khoản 1 Điều 112 quy định Giấy chứng nhận đã cấp tiếp tục có giá trị pháp lý; việc chỉnh lý loại đất do thay đổi quy định của Luật không thu phí, không làm giảm quyền, lợi ích và giá trị bồi thường của người sử dụng đất.
Theo tôi, chất lượng một đạo luật không chỉ thể hiện ở việc tinh giản số chương, số điều mà quan trọng hơn là các quy định phải rõ ràng, dễ hiểu, thống nhất và khả thi.
Về quốc phòng, an ninh, tôi đề nghị bảo đảm quỹ đất dành cho căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần - kỹ thuật, công trình phòng thủ, thao trường, trường bắn và các công trình phục vụ lực lượng vũ trang ngay từ khâu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhất là trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.
Đối với khoản 2 Điều 35, tôi đề nghị các dự án do Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư vẫn phải có ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trong quá trình thẩm định chủ trương đầu tư, nhằm bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Đối với khoản 3 Điều 22 về khu vực hạn chế tiếp cận đất đai, tôi đề nghị Luật quy định nguyên tắc xác định các khu vực biên giới, ven biển, hải đảo, xung quanh công trình quốc phòng, khu quân sự và địa bàn trọng yếu; đồng thời bắt buộc lấy ý kiến Bộ Quốc phòng, Bộ Công an khi tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận QSDĐ tại các khu vực này. Cần bổ sung quy định bảo mật dữ liệu đất quốc phòng, an ninh trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.
Tôi đề nghị tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật theo hướng khơi thông nguồn lực đất đai, bảo đảm quyền lợi chính đáng và sinh kế bền vững của người dân, đồng thời giữ vững quốc phòng, an ninh.