Chính trị

Bổ sung nguyên liệu không chứa nicotine được sử dụng chuyên dùng cho sản phẩm thuốc lá vào phạm vi điều chỉnh

Trang Nhung • 21/10/2026 13:08

Thảo luận tại Tổ 3 (gồm Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng, Lạng Sơn và Hà Tĩnh) sáng 21/10 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, các ĐBQH TP. Hải Phòng đề nghị bổ sung nguyên liệu không chứa nicotine được sử dụng chuyên dùng cho sản phẩm thuốc lá vào phạm vi điều chỉnh; nâng diện tích cảnh báo sức khoẻ trên bao bì thuốc lên ít nhất 85%...

Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng Lê Ngọc Châu chủ trì thảo luận tổ Ảnh: Lâm Hiển
Trưởng đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng Lê Ngọc Châu chủ trì phiên thảo luận tại Tổ 3. Ảnh: Lâm Hiển

Hoàn thiện phạm vi cấm đối với thuốc lá mới

Tán thành sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, đặc biệt là việc luật hóa các quy định cấm đối với thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và tăng cường những biện pháp hạn chế tiếp cận thuốc lá, ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga (TP. Hải Phòng) cho rằng đây là bước cụ thể hóa cần thiết quan điểm chuyển mạnh sang chủ động phòng bệnh, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe Nhân dân.

Qua nghiên cứu hồ sơ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Văn hóa và Xã hội, đại biểu nhận thấy dự thảo đã được tiếp thu, chỉnh lý theo hướng rõ hơn về đối tượng bị cấm, đồng thời tiếp tục duy trì các công cụ quản lý cần thiết đối với kinh doanh thuốc lá truyền thống. Đại biểu tập trung góp ý một số vấn đề liên quan trực tiếp đến hiệu quả phòng ngừa và khả năng tổ chức thi hành.

n3(1)_watermarked.jpg
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga (TP. Hải Phòng) phát biểu tại thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển

Theo đó, tại khoản 1 Điều 1, dự thảo sửa đổi khái niệm nguyên liệu thuốc lá, trong đó bao gồm chất có chứa nicotine và chất khác do Chính phủ căn cứ tình hình thực tế để quy định. Đại biểu đồng tình với nhận xét của cơ quan thẩm tra rằng cách quy định này còn có nguy cơ để lại khoảng trống đối với nguyên liệu không chứa nicotine được sử dụng cho thuốc lá điện tử.

Theo đó, nếu phạm vi điều chỉnh phụ thuộc quá nhiều vào việc sản phẩm có chứa nicotine hay không, cơ quan thực thi có thể gặp khó khi sản phẩm được giới thiệu là không chứa nicotine, hoặc khi chưa có kết quả kiểm nghiệm. Trong khi đó, mục tiêu của chính sách là chủ động ngăn ngừa việc sản xuất, lưu thông và sử dụng các sản phẩm thuộc diện bị cấm.

Vì vậy, đại biểu đề nghị tiếp thu kiến nghị của cơ quan thẩm tra, bổ sung nguyên liệu không chứa nicotine được sử dụng chuyên dùng cho sản phẩm thuốc lá vào phạm vi điều chỉnh. Đồng thời, cần làm rõ dấu hiệu chuyên dùng để phân biệt với các chất, nguyên liệu có mục đích sử dụng hợp pháp khác. Luật xác định những dấu hiệu pháp lý cơ bản; Chính phủ quy định tiêu chí kỹ thuật và phương pháp nhận diện.

Cùng với nguyên liệu, cần rà soát sự thống nhất giữa định nghĩa “sản phẩm hoàn chỉnh” tại Điều 2 với các đối tượng bị cấm tại Điều 9. Dự thảo đã cấm riêng thiết bị điện tử, bộ phận chứa nguyên liệu và nguyên liệu thuốc lá. Tuy nhiên, cần tiếp tục kiểm tra khả năng áp dụng đối với cụm linh kiện, bộ phận chuyên dụng được nhập khẩu hoặc kinh doanh riêng lẻ để lắp ráp thành sản phẩm.

Yêu cầu đặt ra là cơ quan thực thi phải có căn cứ xử lý việc chia nhỏ sản phẩm để né tránh quy định, đồng thời phân biệt được với linh kiện, thiết bị dùng chung trong sản xuất và đời sống. Đây là nội dung cần được chuẩn bị ngay trong quá trình xây dựng văn bản hướng dẫn - đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh.

Một điểm nữa là khoản 13 Điều 9 giao Chính phủ bổ sung các sản phẩm thuốc lá bị nghiêm cấm sử dụng, trong khi khoản 2 liệt kê cụ thể các đối tượng bị cấm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, vận chuyển và thực hiện những hoạt động liên quan. Đại biểu đề nghị làm rõ cơ chế áp dụng đồng bộ các hành vi cấm khi có sản phẩm mới được bổ sung. Cần tránh tình trạng đã cấm sử dụng nhưng căn cứ để ngăn chặn nguồn cung lại chưa đầy đủ.

Theo đại biểu, những quy định này càng rõ thì việc kiểm tra, giám định và xử lý càng thống nhất, giảm tranh luận về phân loại sản phẩm và hạn chế khả năng lợi dụng kẽ hở pháp luật.

Cụ thể hơn việc bảo vệ người chưa đủ 18 tuổi

Khoản 9 Điều 1 dự thảo quy định cơ sở bán buôn, bán lẻ thuốc lá có quyền từ chối không bán nếu khách hàng không chứng minh được đủ tuổi mua thuốc lá. Theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, cần chuyển từ cách tiếp cận trao quyền sang xác lập nghĩa vụ.

Điều 9 đã cấm bán, cung cấp thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi. Để thực hiện được quy định này, người bán phải có trách nhiệm xác minh tuổi trong trường hợp cần thiết và phải từ chối khi chưa xác minh được. Nếu chỉ quy định “có quyền”, việc yêu cầu chứng minh tuổi vẫn có thể phụ thuộc vào lựa chọn của người bán.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị quy định theo hướng: cơ sở bán thuốc lá phải yêu cầu người mua chứng minh tuổi khi có căn cứ nghi ngờ người đó chưa đủ 18 tuổi; không được bán nếu người mua không chứng minh được đã đủ tuổi theo quy định.

Phương thức chứng minh giao Chính phủ quy định, bảo đảm đơn giản, khả thi và phù hợp với pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cần chấp nhận những hình thức giấy tờ hoặc phương thức xác thực hợp pháp, chỉ xử lý thông tin cần thiết cho việc xác minh tuổi, tránh phát sinh yêu cầu lưu giữ dữ liệu quá mức hoặc chi phí thiết bị không cần thiết cho điểm bán nhỏ.

Đại biểu cũng đề nghị giữ yêu cầu niêm yết thông báo không bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi. Khi thay toàn bộ điểm b khoản 1 Điều 25 bằng quy định mới, nghĩa vụ niêm yết hiện hành không còn được thể hiện tại điểm này. Đây là biện pháp đơn giản, ít tốn kém, giúp người bán và người mua nhận biết rõ giới hạn pháp luật, cần được duy trì cùng với trách nhiệm kiểm tra tuổi.

Bên cạnh điểm bán trực tiếp, việc bảo vệ thanh thiếu niên phải được thực hiện hiệu quả trên môi trường số. Đại biểu tán thành quy định cấm bán thuốc lá trên nền tảng thương mại điện tử và bằng phương thức giao dịch điện tử khác; đồng thời, đánh giá tích cực việc dự thảo đã đề cập tiếp thị liên kết trong khái niệm tiếp thị trực tiếp.

Tuy nhiên, cần làm rõ hơn trách nhiệm của nền tảng trong phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin chào bán, quảng cáo và tiếp thị thuốc lá vi phạm. Nếu một tài khoản bị xử lý nhưng ngay sau đó có thể mở tài khoản khác để tiếp tục hoạt động, hiệu quả của lệnh cấm sẽ bị hạn chế.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị rà soát đồng bộ với pháp luật về thương mại điện tử, quảng cáo và quản lý thông tin trên mạng, xác định rõ trách nhiệm của người bán, người quảng cáo, người tiếp thị liên kết và đơn vị vận hành nền tảng. Những nguyên tắc trách nhiệm cần được thể hiện rõ; quy trình phối hợp, thời hạn xử lý và biện pháp kỹ thuật giao Chính phủ quy định.

Đối với nền tảng xuyên biên giới, cần có đầu mối tiếp nhận thông tin, yêu cầu phối hợp và theo dõi kết quả xử lý. Chính sách bảo vệ trẻ em sẽ đầy đủ hơn khi đồng thời kiểm soát được điểm bán trực tiếp và các hình thức tiếp cận trên môi trường số...

Nâng diện tích cảnh báo sức khoẻ trên bao bì thuốc lên ít nhất 85%

Cũng tham gia góp ý về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, ĐBQH Vũ Văn Tiến (TP. Hải Phòng) dẫn báo cáo tổng kết 13 năm thi hành Luật của Bộ Y tế, nhấn mạnh: mỗi năm thuốc lá liên quan tới hơn 100.000 trường hợp tử vong tại Việt Nam. Việt Nam vẫn thuộc nhóm 15 quốc gia có tỷ lệ nam giới trưởng thành hút thuốc cao nhất thế giới. Chi phí y tế và thiệt hại kinh tế do sử dụng thuốc lá ước tính 108 nghìn tỷ đồng, tương đương 1,14% GDP năm 2022.

ĐBQH Vũ Văn Tiến (TP. Hải Phòng) phát biểu tại thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển
ĐBQH Vũ Văn Tiến (TP. Hải Phòng) phát biểu tại thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển

Vấn đề đại biểu Vũ Văn Tiến đặc biệt lưu ý là cảnh báo sức khỏe trên bao thuốc. Dự thảo lần này chưa sửa đổi các quy định về cảnh báo sức khỏe, trong khi bộ 6 mẫu cảnh báo đã được sử dụng 13 năm mà chưa thay đổi về hình ảnh và nội dung, hiệu quả cảnh báo đã giảm.

Theo đại biểu, tại Lào, Brunei và Myanmar, diện tích cảnh báo đã là 75%. Thái Lan và Singapore áp dụng bao bì thuốc lá trơn với diện tích cảnh báo khoảng 85–90% mặt trước và sau. Vì vậy, đại biểu đề nghị nâng diện tích cảnh báo lên ít nhất 85%, đồng thời thường xuyên đổi mới cả hình ảnh và nội dung cảnh báo.

Dẫn chứng bao thuốc lá mang về từ Pháp, đại biểu cho biết, cảnh báo ở đây kết hợp chữ với hình ảnh rất lớn ở cả hai mặt, diễn đạt trực diện, gắn với hậu quả cụ thể như tăng nguy cơ bị mù, gây đột quỵ, gây 9 trong 10 ca ung thư phổi. “Không chỉ nói với người sử dụng rằng thuốc lá ‘có hại’. Cần nói rõ nó hại cái gì, hại ai và hại như thế nào”, ĐBQH Vũ Văn Tiến nhấn mạnh.

Về bảo đảm môi trường không khói thuốc, đại biểu Vũ Văn Tiến cho rằng, sau 13 năm thi hành Luật, điểm yếu vẫn nằm ở khâu thực thi. Tại khách sạn, nhà hàng, quán cà phê, karaoke, tình trạng vi phạm còn phổ biến, việc xử lý còn ít. Trong khi đó, dự thảo chưa sửa đổi quy định về trách nhiệm của người đứng đầu, người quản lý địa điểm cấm hút thuốc. Do đó, đại biểu đề nghị cụ thể hóa trách nhiệm này; đồng thời, rà soát chế tài theo hướng đủ sức răn đe đối với cả hành vi vi phạm và trường hợp buông lỏng quản lý.

Trang Nhung