Khơi thông nguồn lực, bảo đảm an ninh năng lượng
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, chiều 20/10, Tổ 15 (gồm Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long và Lào Cai) tiến hành thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao, Luật Du lịch, Luật Thư viện, Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa, Luật Quảng cáo, Luật Báo chí.

Tạo đột phá cho ngành điện
Góp ý về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, ĐBQH Ngô Sỹ Cường (Vĩnh Long) nhấn mạnh, sửa đổi luật lần này có ý nghĩa quan trọng trong hoàn thiện thể chế phát triển nguồn điện, lưới điện và năng lượng tái tạo, đáp ứng yêu cầu bảo đảm đủ điện cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Theo đại biểu, tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện thường gấp khoảng 1,5 lần tốc độ tăng trưởng GDP. Nếu nền kinh tế tăng trưởng 10% mỗi năm, ngành điện phải bảo đảm tốc độ tăng trưởng nguồn và sản lượng điện khoảng 15%. Trong khi dư địa phát triển các nguồn điện truyền thống không còn nhiều.
Bên cạnh vấn đề nguồn điện, đại biểu cho rằng hạ tầng truyền tải điện cũng đang gặp nhiều vướng mắc nghiêm trọng. Theo chỉ tiêu giao cho ngành điện lực, hệ thống truyền tải năm nay phải tăng trưởng 6,5%. Tuy nhiên, báo cáo của Bộ Công Thương cho thấy tốc độ tăng trưởng thực tế mới chỉ đạt khoảng 3,2% - 3,5%, tức là chỉ hoàn thành một nửa kế hoạch.

Từ thực tiễn đó, đại biểu Ngô Sỹ Cường đề nghị sửa đổi Điều 20 theo hướng công nhận hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS) là một nguồn điện độc lập, thay vì chỉ coi đây là thiết bị phụ trợ. Hệ thống này có thể tích trữ điện vào giờ thấp điểm để sử dụng hoặc bán vào giờ cao điểm, góp phần điều hòa phụ tải, giảm áp lực lên hệ thống truyền tải và giải quyết tình trạng thiếu điện cục bộ tại các khu vực có nhu cầu lớn như chung cư cao tầng, trạm sạc xe điện.

Cùng quan tâm đến huy động nguồn lực, ĐBQH Trần Quốc Tuấn (Vĩnh Long) đề nghị gắn việc lựa chọn chủ đầu tư các dự án điện lực quy mô lớn với mục tiêu làm chủ công nghệ trong nước. Khối lượng đầu tư vào nguồn và lưới điện trong thời gian tới sẽ rất lớn, tạo thị trường tiềm năng cho công nghiệp cơ khí chế tạo, công nghiệp năng lượng và các doanh nghiệp tổng thầu trong nước. Tuy nhiên, nếu việc lựa chọn nhà đầu tư, tổng thầu chỉ căn cứ vào từng dự án riêng lẻ, không gắn với yêu cầu làm chủ thiết kế, tích hợp hệ thống và chế tạo thiết bị, Việt Nam có nguy cơ tiếp tục phụ thuộc vào công nghệ, thiết bị nhập khẩu.
Về thủ tục đầu tư, đại biểu Trần Quốc Tuấn đề nghị xây dựng cơ chế phối hợp giữa đánh giá tác động môi trường và thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi, cho phép triển khai đồng thời các thủ tục phù hợp thay vì thực hiện tuần tự. Thực tiễn tại Vĩnh Long cho thấy nhà đầu tư phải thực hiện nhiều thủ tục liên quan đến đất đai, khu vực biển và đấu nối. Thiếu cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thẩm định khiến thời gian chuẩn bị dự án kéo dài, làm tăng chi phí.

ĐBQH Tráng A Dương (Lào Cai) đồng tình với mục tiêu cắt giảm thủ tục, tạo thuận lợi cho các dự án điện lực, nhưng đề nghị xác định rõ phạm vi ưu tiên áp dụng Luật Điện lực khi có quy định khác nhau với các luật liên quan. Theo đại biểu, cụm từ “cùng một vấn đề liên quan đến hoạt động điện lực” còn rộng, có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau khi áp dụng với pháp luật về đầu tư, đấu thầu, đất đai và lâm nghiệp. Do đó, cần rà soát cụ thể từng nội dung có khác biệt, giải trình sự cần thiết của cơ chế đặc thù, bảo đảm tháo gỡ vướng mắc nhưng không tạo khoảng trống pháp lý.
Minh bạch giá điện, bảo đảm quyền lợi người dân và an toàn hệ thống
Tại phiên thảo luận, các đại biểu quan tâm đến hoàn thiện cơ chế giá điện theo hướng vừa thu hút đầu tư, vừa kiểm soát chi phí. ĐBQH Thạch Phước Bình (Vĩnh Long) cơ bản tán thành việc mở rộng các thành phần giá dịch vụ điện, bao gồm giá công suất, giá điện năng, giá dịch vụ lưu trữ điện và các cơ chế khuyến khích đầu tư. Tuy nhiên, đại biểu lưu ý nguy cơ cộng dồn chi phí nếu từng cơ chế được xây dựng riêng lẻ mà không đánh giá tổng thể.

Bên cạnh đó, đại biểu cho rằng cần luật hóa nguyên tắc công khai phương pháp xác định giá, các thông số đầu vào chủ yếu và cách xác định mức lợi nhuận hợp lý, trừ thông tin thuộc bí mật nhà nước hoặc bí mật kinh doanh theo quy định. Theo đại biểu, minh bạch giá điện phải giúp xã hội xác định được chi phí nào được đưa vào giá, được tính theo phương pháp nào và có xảy ra tình trạng tính trùng hay không. Đây là yêu cầu quan trọng bởi giá điện tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân.
Liên quan đến quy định ngừng cung cấp điện do không thanh toán tiền điện, đại biểu Thạch Phước Bình cho rằng việc bên bán không chịu trách nhiệm về thiệt hại do việc ngừng cấp điện gây ra trong mọi trường hợp là chưa hợp lý. Bởi, việc miễn trách nhiệm chỉ phù hợp nếu bên bán đã thực hiện đúng căn cứ, đúng trình tự, đúng thời hạn và đúng đối tượng. Nếu bên bán ngừng điện sai do lỗi dữ liệu thanh toán, gửi thông báo không hợp lệ hoặc ngừng trước thời hạn, thì không có cơ sở pháp lý để miễn toàn bộ trách nhiệm. Trong khi đó, điện là dịch vụ thiết yếu, việc ngừng cấp điện có thể ảnh hưởng đến sản xuất, hệ thống dữ liệu, chuỗi cung ứng lạnh, cơ sở y tế và sinh hoạt của người dân.
Đối với việc ngừng cung cấp điện theo yêu cầu của cơ quan nhà nước, đại biểu đề nghị chỉ áp dụng khi luật quy định cụ thể đây là biện pháp đối với hành vi vi phạm tương ứng, tránh biến ngừng cấp điện thành công cụ cưỡng chế hành chính có thể áp dụng rộng rãi.

Ở góc độ bảo đảm công bằng trong tiếp cận điện năng, ĐBQH Sùng A Lềnh (Lào Cai) đề nghị ưu tiên nguồn lực cho địa bàn chưa có điện, khu dân cư có điện yếu, không ổn định, không bảo đảm an toàn và các công trình cấp điện thiết yếu đã xuống cấp.
Theo kết quả giám sát chuyên đề của Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai vào tháng 7/2026, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện trên địa bàn đạt khoảng 98,2%, nhưng vẫn còn 31 thôn, bản thuộc 12 xã chưa có điện lưới quốc gia và 847 cụm dân cư có điện chất lượng thấp, không ổn định, chưa bảo đảm an toàn. Địa hình chia cắt, dân cư phân tán khiến suất đầu tư cao, trong khi nguồn lực cải tạo, nâng cấp và tiếp nhận công trình còn hạn chế. Đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ dân có điện chưa phản ánh đầy đủ chất lượng và mức độ an toàn trong tiếp cận điện. Vì vậy, cần quy định rõ tiêu chí ưu tiên, cơ chế phối hợp nguồn vốn, trách nhiệm đầu tư, tiếp nhận và quản lý vận hành công trình; đồng thời tính đến chi phí duy trì, sửa chữa và khả năng chống chịu thiên tai.
Về hỗ trợ tiền điện, đại biểu Sùng A Lềnh đề nghị xác định rõ đối tượng, nguồn kinh phí, trách nhiệm thực hiện và phương thức hỗ trợ thuận lợi cho người dân. Việc thực hiện lộ trình xóa bỏ bù chéo giữa các nhóm khách hàng cần đi đôi với đánh giá tác động đến khả năng chi trả của hộ nghèo, hộ chính sách và người dân vùng khó khăn.