Đời sống

Chủ động nguồn nước từ dự báo đến điều hành liên vùng

Lam Ngọc • 20/10/2026 14:55

Việc xây dựng kịch bản nguồn nước giúp nhận diện sớm nguy cơ thiếu nước, nhưng dữ liệu quan trắc thiếu đồng bộ, hạ tầng hạn chế và những bất cập trong phối hợp vận hành đang đặt ra yêu cầu đổi mới cách điều hòa, phân phối nguồn nước.

img_6033.jpeg
Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: Kiều Chi

Ngày 20/10, tại Hà Nội, Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Quản lý tài nguyên nước tổ chức Hội thảo “Đưa Luật Tài nguyên nước vào cuộc sống: Chủ động nguồn nước, điều hòa và vận hành hiệu quả”.

Tại hội thảo, ThS. Nguyễn Thị Phương, Phó Trưởng phòng Lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Cục Quản lý tài nguyên nước cho biết, Luật Tài nguyên nước có hiệu lực từ ngày 1/7/2024 đánh dấu bước chuyển từ quản lý chủ yếu thông qua cấp phép khai thác, sử dụng nước sang quản trị tổng hợp theo lưu vực sông, gắn với điều hòa, phân phối nguồn nước giữa các ngành, địa phương.

Một điểm mới quan trọng là việc xây dựng, công bố kịch bản nguồn nước được luật hóa, tạo căn cứ lập kế hoạch sử dụng nước và điều chỉnh vận hành các công trình.

Kịch bản nguồn nước phải gắn với quyết định điều hành

Theo TS. Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, nếu dự báo khí tượng thủy văn cung cấp thông tin về lượng mưa, lượng nước trên sông, thì kịch bản nguồn nước giúp xác định khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng, cũng như địa điểm và thời điểm có nguy cơ thiếu nước.

Kịch bản được xây dựng theo ba trạng thái: bình thường, thiếu nước và thiếu nước nghiêm trọng. Phạm vi triển khai đang mở rộng từ 8 trong số 16 lưu vực sông vào mùa cạn 2024-2025 lên 13 lưu vực trong giai đoạn 2026-2027.

Thực tiễn vụ Đông Xuân 2026 tại Bắc Bộ cho thấy, điều hành theo kịch bản giúp xác định lượng nước xả phục vụ đổ ải tối ưu khoảng 3,2-3,7 tỷ m³, đồng thời phát hiện sớm nguy cơ thiếu nước tại 8 tỉnh. Trên cơ sở đó, các địa phương có thể chủ động điều chỉnh diện tích sản xuất, chuyển đổi mùa vụ và tích trữ nước.

Tuy nhiên, TS. Nguyễn Ngọc Hà cho rằng, kịch bản chỉ phát huy hiệu quả khi được chuyển thành quyết định điều hành cụ thể, gắn với lịch thời vụ, kế hoạch cấp nước và phối hợp vận hành liên hồ chứa. Việc phân phối nguồn nước cần ưu tiên nước sinh hoạt, đồng thời bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu.

Đặc biệt, dự báo El Niño giai đoạn 2026-2027 đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực điều hành, chủ động ứng phó nguy cơ thiếu nước.

Để thực hiện, hệ thống dữ liệu quan trắc, dự báo phải đầy đủ, chính xác và được chia sẻ kịp thời. Song đây đang là một trong những hạn chế của công tác quản lý, vận hành hồ chứa.

GS. Nguyễn Quốc Dũng, Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam cho biết, quá trình thể chế hóa chính sách còn chậm, cơ chế quản lý hồ thủy lợi và thủy điện trên cùng lưu vực chưa thống nhất. Đáng chú ý, chỉ khoảng 17% hồ chứa được trang bị thiết bị khí tượng thủy văn chuyên dùng tự động.

Dữ liệu quan trắc còn phân tán, thiếu chuẩn kết nối, ảnh hưởng đến khả năng chia sẻ thông tin, phối hợp vận hành và đưa ra quyết định điều tiết nguồn nước.

Để khắc phục, GS. Nguyễn Quốc Dũng kiến nghị phát triển hạ tầng số, ứng dụng hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) và công nghệ bản sao số (Digital Twin) trong vận hành hồ chứa, liên hồ chứa.

Theo đó, các chủ hồ cần chia sẻ dữ liệu quan trắc theo thời gian thực với trung tâm điều hành lưu vực sông; tích hợp dữ liệu dự báo, viễn thám và bản đồ rủi ro hạ du. Trí tuệ nhân tạo (AI) cũng có thể được ứng dụng để mô phỏng ngập lụt, hỗ trợ quyết định xả nước và điều phối vận hành liên hồ.

Cùng với đầu tư công nghệ, cần bố trí kinh phí thường xuyên để cập nhật dữ liệu, bảo trì, nâng cấp mô hình; xây dựng quy chuẩn thống nhất về an toàn đập, quan trắc khí tượng thủy văn và định mức kinh tế - kỹ thuật cho dịch vụ hỗ trợ ra quyết định. Việc đào tạo nhân lực vận hành mô hình số, tăng cường tư vấn và phản biện độc lập cũng cần được chú trọng.

Tăng kết nối hạ tầng, điều hòa nguồn nước liên vùng

Bên cạnh dữ liệu và công nghệ, hiệu quả điều hòa nguồn nước còn phụ thuộc vào khả năng kết nối hạ tầng, phân bổ nguồn nước và phối hợp vận hành giữa các công trình trên từng lưu vực.

Theo ông Phạm Công Thành, Trưởng phòng Quy hoạch thủy lợi Bắc Trung Bộ, Viện Quy hoạch Thủy lợi, khu vực này hiện có hơn 2.500 hồ chứa lớn nhỏ. Nhu cầu sử dụng nước toàn vùng khoảng 10,8 tỷ m³, dự kiến tăng lên 11,72 tỷ m³ vào năm 2050, trong khi lượng thiếu hụt trong tương lai ước khoảng 2,9 tỷ m³ mỗi năm.

Trước nhu cầu nước gia tăng tại các đô thị, khu kinh tế ven biển và khu vực dọc đường Hồ Chí Minh, trong khi khả năng xây dựng thêm hồ chứa lớn còn hạn chế, ông Thành đề xuất nghiên cứu chuyển nước từ nơi có khả năng cấp bổ sung đến khu vực thiếu nước.

Một số phương án được đề xuất gồm chuyển nước từ hồ Cửa Đạt đến khu vực Ngọc Lặc và dọc đường Hồ Chí Minh; từ hồ Ngàn Trươi đến vùng ven biển Nghi Xuân; từ hồ Rào Trổ sang Vực Tròn phục vụ Khu kinh tế Hòn La; kết nối các hồ Truồi - Thủy Yên - Thủy Cam phục vụ Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô.

Tuy nhiên, theo ông Thành, các phương án phải dựa trên tính toán cân bằng nước, bảo đảm nhu cầu tại nơi chuyển nước, đồng thời đánh giá an toàn công trình, khả năng thoát lũ, tác động đến sinh kế, hiệu quả kinh tế và cơ sở pháp lý. Cần có bộ tiêu chí đánh giá tính khả thi để lựa chọn phương án phù hợp, tránh đầu tư thiếu hiệu quả.

Tại hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, khó khăn nổi bật lại nằm ở khả năng lấy nước và vận hành công trình.

Ông Lương Xuân Chính, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải cho biết, mực nước sông Hồng tại Xuân Quan thấp khiến lượng nước lấy qua cống chỉ đạt khoảng 20% công suất thiết kế. Xâm nhập mặn tại Cầu Xe, An Thổ gia tăng, gây khó khăn cho cấp nước mùa khô.

Dù đã lắp đặt hệ thống quan trắc tự động tại 12 công trình chính, ứng dụng hệ thống giám sát, điều khiển và thu thập dữ liệu (SCADA), điều khiển cống từ xa, doanh nghiệp vẫn gặp trở ngại do ô nhiễm, lấn chiếm dòng chảy, thiếu nhân lực công nghệ và thủ tục cấp phép khai thác nước mặt đối với công trình thủy lợi lâu năm còn phức tạp.

Doanh nghiệp kiến nghị ưu tiên điều hòa nguồn nước liên vùng, đẩy nhanh xây dựng đập dâng Xuân Quan trên sông Hồng, Long Tửu trên sông Đuống và một đập trên sông Đà. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phối hợp vận hành các công trình trên hệ thống sông Hồng, sông Đuống, sông Thái Bình và sông Luộc để chủ động cấp nước, ứng phó hạn hán và tiêu úng.

Cùng với đó, doanh nghiệp đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường ưu tiên nguồn lực triển khai Đề án phát triển tổng thể hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải theo Quyết định số 4160/QĐ-BNNMT; tăng cường kiểm soát nguồn thải, xử lý ô nhiễm và lấn chiếm dòng chảy.

Đối với các công trình thủy lợi lâu năm, cần đơn giản hóa thủ tục cấp phép khai thác nước mặt, hỗ trợ hiện đại hóa hệ thống quan trắc, cảnh báo, điều hành và bảo đảm kinh phí quản lý, vận hành.

Lam Ngọc