Kinh tế

Đổi mới chính sách thuế, hoàn thiện hạ tầng logistics để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

Nguyễn Liên • 20/10/2026 08:22

Hiệu quả của chính sách thuế, năng lực quản lý hải quan và chất lượng hạ tầng logistics không còn là câu chuyện riêng của từng ngành, mà trở thành những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, chất lượng môi trường đầu tư và vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Đây là nhấn mạnh của PGS.TS Nguyễn Mạnh Thiều, Phó Giám đốc Học viện Tài chính tại Hội thảo khoa học cấp Học viện với chủ đề “Chính sách và quản lý thuế, hải quan, logistics” lần thứ 7 năm 2026 vừa diễn ra.

Đề xuất các giải pháp chính sách thiết thực

Tại Hội thảo, các chuyên gia tập trung thảo luận làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn mới phát sinh trước bối cảnh kinh tế số, kinh tế xanh và hội nhập quốc tế.

1792414856421_1502028811286247091_5726071119869575708_a6120a8913c0418166b9c929fc0ae63b.jpg
PGS.TS Nguyễn Mạnh Thiều, Phó Giám đốc Học viện Tài chính phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Đào Loan

Phát biểu tại Hội thảo, PGS.TS Nguyễn Mạnh Thiều, Phó Giám đốc Học viện Tài chính cho biết, chuỗi cung ứng toàn cầu sau đại dịch Covid-19 và các căng thẳng địa chính trị, đặc biệt là chiến tranh thương mại giữa các nền kinh tế lớn, đã và đang tái cấu trúc dòng chảy thương mại, đầu tư và logistics.

Ở phạm vi quốc gia, Việt Nam là một trong những nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 ước đạt trên 930 tỷ USD, gấp hơn hai lần quy mô GDP. Năm 2026, kim ngạch thương mại hàng hóa được dự báo tiếp tục tăng trưởng, hướng tới ngưỡng 1.000 tỷ USD.

Trong bối cảnh đó, hiệu quả của chính sách thuế, năng lực quản lý hải quan và chất lượng hạ tầng logistics không còn là câu chuyện riêng của từng ngành, mà trở thành những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, chất lượng môi trường đầu tư và vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Thực tiễn đó đòi hỏi ngành Thuế, Hải quan và Logistics phải đổi mới mạnh mẽ cả về thể chế, mô hình quản trị và ứng dụng công nghệ; đồng thời đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu, trao đổi và hoàn thiện.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của lĩnh vực thuế, hải quan và logistics trong bối cảnh mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng định hướng cho sự phát triển của các lĩnh vực này.

Trước bối cảnh và yêu cầu nêu trên, Hội thảo “Chính sách và quản lý thuế, hải quan, logistics” được tổ chức nhằm tạo diễn đàn học thuật để các nhà khoa học, nhà quản lý, chuyên gia, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên và cộng đồng doanh nghiệp cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp chính sách thiết thực.

Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Thiều, Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được 80 bài viết của các tác giả là các nhà khoa học, giảng viên, nghiên cứu viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên đến từ các trường đại học trên phạm vi toàn quốc; cùng nhiều nhà quản lý, công chức thuế, hải quan, công ty logistics. Sự tham gia đông đảo, đa dạng về ngành nghề, vị trí công tác và khu vực cho thấy chủ đề Hội thảo có tính thời sự cao, thu hút sự quan tâm của cả giới nghiên cứu và thực tiễn quản lý.

Nâng cao hiệu quả từng công cụ thuế, bảo đảm chính sách đến đúng đối tượng

Tại Hội thảo, chia sẻ về chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 gắn với mục tiêu tăng trưởng hai con số, ông Nguyễn Văn Phụng, nguyên Cục trưởng Cục Doanh nghiệp lớn (Tổng cục Thuế) cho rằng, định hướng đổi mới trong giai đoạn 2026 - 2030 cần tập trung vào cách thức tổ chức thực hiện, cơ chế tiếp cận chính sách và hệ thống chỉ tiêu đánh giá.

Theo ông, trọng tâm không phải là ban hành thêm nhiều ưu đãi, mà là nâng cao hiệu quả của từng công cụ thuế, bảo đảm chính sách đến đúng đối tượng, tạo ra hoạt động kinh tế tăng thêm và có thể điều chỉnh kịp thời khi mục tiêu hoặc điều kiện kinh tế thay đổi.

1792415191798_1502028811286247091_5726071119869575708_14e205f888697a99fd9005b3cb7564f4.jpg
Ông Nguyễn Văn Phụng, nguyên Cục trưởng Cục Doanh nghiệp lớn (Tổng cục Thuế) phát biểu. Ảnh: Đào Loan

Để các định hướng đổi mới chính sách thuế được triển khai thực chất, nguyên Cục trưởng Cục Doanh nghiệp lớn nhìn nhận cần xây dựng một cơ chế thực hiện thống nhất, có thứ tự ưu tiên, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan và gắn với hệ thống chỉ tiêu đánh giá cụ thể. Trọng tâm của giai đoạn tới không chỉ là lựa chọn chính sách nào được ban hành, mà còn phải bảo đảm chính sách được thực hiện nhất quán, kiểm soát được chi phí ngân sách và tạo ra kết quả phát triển có thể kiểm chứng.

Ông Nguyễn Văn Phụng khuyến nghị, cần xây dựng chương trình hành động về đổi mới chính sách thuế giai đoạn 2026 - 2030. Các giải pháp có thể được phân kỳ để giúp tránh tình trạng ban hành đồng thời quá nhiều chính sách trong khi năng lực tổ chức thực hiện, hệ thống công nghệ và nguồn nhân lực chưa đáp ứng đầy đủ.

Đồng thời, bảo đảm tính thống nhất, liên thông giữa các văn bản hướng dẫn luật để bảo đảm rằng quy định của luật được dẫn vào đời sống thực tế, tránh 2 khả năng xảy ra trên thực tế hoặc là “chồng chéo, trùng lắp” hoặc là “bỏ trống trận địa” gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý, thực thi và khó khăn cho cả doanh nghiệp và người dân.

Cùng với đó, thiết lập cơ chế đánh giá bắt buộc đối với các chính sách làm giảm số thu hoặc làm chậm thời điểm thu ngân sách; tăng cường phối hợp giữa chính sách thuế với chính sách đầu tư, khoa học - công nghệ, lao động và phát triển doanh nghiệp…

1792415164717_1502028811286247091_5726071119869575708_5cf91174316ad84936134fb239dbaa67.jpg
PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: Đào Loan

PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, quá trình chuyển đổi từ thuế khoán sang quản lý thuế dựa trên dữ liệu phản ánh sự thay đổi căn bản trong phương thức quản lý hộ kinh doanh ở Việt Nam.

Trong mô hình mới, chuyển đổi số cho phép cơ quan thuế khai thác dữ liệu từ các bên thứ ba như nền tảng thương mại điện tử, ngân hàng, hệ thống thanh toán, hóa đơn điện tử và logistics; đồng thời tích hợp và phân tích dữ liệu bằng dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI). Điều này tạo điều kiện chuyển từ quản lý dựa trên ước tính sang quản lý thuế dựa trên rủi ro, qua đó nâng cao khả năng xác định doanh thu, phát hiện sai lệch và cải thiện mức độ tuân thủ thuế.

Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu, sự gia tăng sử dụng dữ liệu bên thứ ba cũng tạo ra một dạng rủi ro mới là phụ thuộc bên thứ ba. Sự phụ thuộc này có thể dẫn đến các rủi ro về chất lượng dữ liệu, an ninh mạng, vận hành hệ thống, tập trung nhà cung cấp và khóa công nghệ. Nếu không được quản trị phù hợp, những rủi ro này có thể chuyển hóa thành rủi ro đối với chính hệ thống quản lý thuế.

1792415313938_1502028811286247091_5726071119869575708_dfe177ee303479f4f25d46e9796c6666.jpg
Các đại biểu tham dự Hội thảo.

Đây chính là “nghịch lý của quản lý thuế số”: càng số hóa để giảm bất cân xứng thông tin với người nộp thuế, Nhà nước càng cần quản trị tốt sự phụ thuộc vào các chủ thể kiểm soát dữ liệu và hạ tầng công nghệ.

Từ những phân tích trên, PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu nhấn mạnh, quá trình chuyển từ thuế khoán sang quản lý thuế dựa trên dữ liệu cần được thực hiện theo hướng tận dụng tối đa lợi ích của dữ liệu bên thứ ba nhưng đồng thời kiểm soát rủi ro phụ thuộc.

Nguyễn Liên