Hoàn thiện cơ chế hậu kiểm, tăng cường bảo vệ trẻ em được nhận làm con nuôi
Thảo luận tại Tổ 15 (Đoàn ĐBQH các tỉnh Phú Thọ, Cà Mau) về dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), một số ý kiến cho rằng, để luật thực sự trở thành “lá chắn” bảo vệ trẻ em, cần hoàn thiện quy định về hậu kiểm, tăng cường kiểm tra thực tế, kể cả đột xuất và duy trì giám sát phù hợp với từng giai đoạn phát triển của trẻ, thay vì chỉ dựa vào báo cáo của cha mẹ nuôi.
.jpg)
Duy trì giám sát định kỳ hàng năm hoặc theo mức độ rủi ro
Góp ý dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), ĐBQH Lưu Thị Thúy Hằng (Phú Thọ) nhấn mạnh: để đạo luật này thực sự trở thành “lá chắn thép” bảo vệ trẻ em, cần bịt kín lỗ hổng trong công tác hậu kiểm, giám sát và báo cáo tình hình phát triển của trẻ sau khi làm con nuôi.
Trước hết, liên quan đến việc theo dõi tình hình phát triển của con nuôi tại Điều 22 và người làm công tác xã hội trong hoạt động nuôi con tại Điều 24, đại biểu cho rằng, việc chỉ yêu cầu cha mẹ nuôi báo cáo định kỳ 6 tháng một lần trong 3 năm đầu, trong khi người làm công tác xã hội chỉ vào cuộc khi có yêu cầu, chưa đủ bảo đảm an toàn cho trẻ.

Bởi, nếu cha mẹ nuôi có hành vi ngược đãi, bóc lột, họ khó có thể tự khai báo trung thực; hơn nữa, nguy cơ bạo hành, xâm hại vẫn có thể xảy ra khi trẻ lớn lên. Do đó, đại biểu đề nghị sửa đổi khoản 1, khoản 2 Điều 22 theo hướng UBND cấp xã cử người làm công tác bảo vệ trẻ em, người làm công tác xã hội cấp xã trực tiếp đến tận nơi cư trú để thăm gặp, kiểm tra thực tế định kỳ và đột xuất tình trạng thể chất, tâm lý của trẻ, thay vì chỉ dựa vào báo cáo bằng văn bản của cha mẹ nuôi.
Đại biểu cũng đề xuất duy trì kiểm tra 6 tháng một lần trong 3 năm đầu, sau 3 năm, tiếp tục duy trì giám sát định kỳ hàng năm hoặc theo mức độ rủi ro cho đến khi trẻ đủ 18 tuổi; kết hợp cập nhật hình ảnh, dữ liệu sức khỏe, học tập của trẻ lên cơ sở dữ liệu điện tử về nuôi con nuôi, kết nối với cơ sở dữ liệu về trẻ em. Đồng thời, tại khoản 3, Điều 24 cần quy định sự tham gia của người làm công tác xã hội trong khâu đánh giá điều kiện và kiểm tra hậu nhận nuôi là quy trình bắt buộc, có cơ chế bảo đảm kinh phí, thù lao để thực hiện tại cấp xã.
Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cũng chỉ rõ, nhiều cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập hiện nay cố tình không thực hiện trách nhiệm chuyển đổi hình thức chăm sóc thay thế cho trẻ. Thực chất ở một số nơi, việc giữ hàng chục, hàng trăm đứa trẻ lại là để kêu gọi từ thiện trục lợi, trong khi điều kiện chăm sóc không bảo đảm dẫn đến hành vi bóc lột sức lao động có hệ thống. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung ngay vào Điều 5 về các hành vi bị cấm: “Cơ sở trợ giúp xã hội cố tình cản trở hoặc không thực hiện trách nhiệm chuyển đổi hình thức chăm sóc thay thế cho trẻ em khi có đủ điều kiện vì mục đích trục lợi”.

Ngoài ra, để mở rộng cơ chế “giải cứu khẩn cấp” - chấm dứt việc nuôi con nuôi khi trẻ bị bạo hành (Điều 27), đại biểu đề nghị sửa đổi điểm c, khoản 1 theo hướng: Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi bao gồm cả trường hợp cha mẹ nuôi “bị xử lý vi phạm hành chính nhiều lần hoặc có hành vi ngược đãi, hành hạ, xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận” mà không cần chờ bản án hình sự có hiệu lực. Đồng thời, tại khoản 2 cần bổ sung trực tiếp chủ thể là Viện Kiểm sát Nhân dân có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi để bảo vệ trẻ em trong trường hợp trẻ bị bạo hành, xâm hại mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tại địa phương không đứng ra yêu cầu.
Làm rõ trách nhiệm khi phát hiện dấu hiệu trẻ có nguy cơ bị xâm hại
Ở góc độ khác, ĐBQH Lê Thị Ngọc Linh (Cà Mau) cho rằng, hiện nay, quy định về bảo đảm quyền biết nguồn gốc của người được nhận nuôi (Điều 7) còn chung chung, chưa làm rõ cơ chế thực hiện, gây khó khăn trong quá trình áp dụng. Do đó, đại biểu thống nhất với báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, đề nghị bổ sung các quy định mang tính nguyên tắc về lưu trữ hồ sơ nuôi con nuôi, điều kiện và trình tự tiếp cận thông tin về nguồn gốc.

Cụ thể, cần quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong quản lý, lưu trữ hồ sơ, bởi đây là nguồn thông tin quan trọng về nhân thân, hoàn cảnh sinh ra, tình trạng sức khỏe, tiền sử bệnh lý và quan hệ huyết thống của người được nhận làm con nuôi. Nếu hồ sơ bị thất lạc, hủy bỏ hoặc lưu trữ không thống nhất, người được nhận nuôi có thể mất cơ hội tìm lại nguồn gốc của mình. Đại biểu đề nghị nghiên cứu cập nhật, quản lý thông tin trên môi trường số, bảo đảm hồ sơ được lưu giữ đầy đủ và có thể truy xuất khi cần thiết.
Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị xây dựng cơ chế lưu trữ hồ sơ thống nhất trên toàn quốc, bảo đảm an toàn và khả năng truy xuất lâu dài, tránh tình trạng mỗi địa phương thực hiện một cách khác nhau hoặc hồ sơ bị thất lạc khi thay đổi tổ chức bộ máy, chuyển giao thẩm quyền. Đồng thời, đề nghị Chính phủ quy định cụ thể quy trình tiếp cận, cung cấp thông tin và cơ chế giải quyết khiếu nại, bảo đảm quyền biết nguồn gốc của người được nhận làm con nuôi được thực hiện minh bạch, thống nhất trên phạm vi cả nước.
Liên quan đến cơ chế tiếp nhận, chuyển giao và xử lý thông tin khi phát hiện con nuôi có nguy cơ bị xâm hại, bỏ mặc (Điều 24), đại biểu đề nghị cần làm rõ trách nhiệm của người làm công tác xã hội và các cơ quan liên quan khi phát hiện dấu hiệu cho thấy trẻ có nguy cơ bị xâm hại, bỏ mặc hoặc không được chăm sóc phù hợp. Cùng với đó, đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định cụ thể hoặc giao Chính phủ quy định về quy trình thông báo, tiếp nhận, chuyển giao và xử lý thông tin khi phát hiện nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn, sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Trong đó, xác định rõ đầu mối tiếp nhận và trách nhiệm phối hợp giữa những người làm công tác xã hội. Đồng thời, cần phân định rõ trách nhiệm của UBND cấp xã và các cơ sở trợ giúp trẻ em, hạn chế chồng chéo giữa các cơ quan, đơn vị, bảo đảm can thiệp kịp thời và bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích của trẻ em.
Đồng quan điểm, ĐBQH Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (Cà Mau) cho rằng, quy trình theo dõi hậu kiểm sau khi trẻ được nhận làm con nuôi còn chung chung, ở khoản 2 Điều 24 cần quy định cụ thể hơn. Trong công tác hậu kiểm, cần phải báo cáo tình hình phát triển của trẻ sau khi được nhận nuôi, đặc biệt nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Theo đại biểu, việc giám sát hiện vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào tính tự giác của cha mẹ nuôi hoặc báo cáo định kỳ của cơ quan ngoại giao, nhà nước chưa có cơ chế giám sát thực chất từ xa hoặc phối hợp kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu bạo hành, xâm phạm trẻ em không được bảo đảm quyền lợi cốt lõi tại nước tiếp nhận.

Từ thực tế đó, đại biểu kiến nghị xây dựng cơ chế quản lý hồ sơ số, số hóa dữ liệu nuôi con nuôi và bảo đảm kết nối, liên thông giữa Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao với các tổ chức nuôi con nuôi quốc tế. Đồng thời, cần nghiên cứu bổ sung quy định về ký kết các thỏa thuận hợp tác tư pháp song phương chuyên sâu, cho phép cơ quan chức năng Việt Nam phối hợp với nước sở tại tiến hành xác minh khẩn cấp tình trạng của trẻ khi phát hiện có dấu hiệu bất thường.