Tăng trưởng cao phải đi đôi với năng lực tự chủ của nền kinh tế
Thảo luận tại Tổ 10 (Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An, Đồng Tháp) chiều 18/10, các đại biểu nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực nội sinh, phát huy hiệu quả các nguồn lực và khắc phục những hạn chế trong tổ chức thực thi chính sách. Cùng với mục tiêu tăng trưởng cao, cần bảo đảm các chính sách phúc lợi và chuyển hóa thành quả phát triển thành những cải thiện thực chất trong đời sống người dân.
.jpg)
Tăng năng lực nội sinh, phát huy hiệu quả các nguồn lực
ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) cho rằng, mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2027 không chỉ đòi hỏi tốc độ tăng trưởng cao mà còn phải tạo động lực tăng trưởng mới có chất lượng, nâng cao năng lực nội sinh, sức chống chịu của nền kinh tế và cải thiện thực chất đời sống người dân.
Đại biểu dẫn số liệu 9 tháng năm 2026, xuất khẩu tăng 24,5% nhưng nhập khẩu tăng 36,7%, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu khoảng 19,42 tỷ USD. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) xuất siêu khoảng 14 tỷ USD, còn khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu 33,42 tỷ USD. Tỷ lệ nội địa hóa ở một số ngành công nghiệp chủ lực mới đạt khoảng 40%. Theo đại biểu, thực tế này cho thấy năng lực cung ứng đầu vào và tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế; tăng trưởng cao chưa đồng nghĩa với năng lực tự chủ và sức cạnh tranh cao.

Từ đó, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị Chính phủ làm rõ cơ sở khoa học của mục tiêu tăng trưởng hai con số; lượng hóa đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR), khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, cụ thể hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân thành các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, quản trị và tiếp cận thị trường; phát triển doanh nghiệp cung ứng trong nước cho các tập đoàn lớn và doanh nghiệp FDI. Việc đánh giá chất lượng tăng trưởng cần chú trọng giá trị gia tăng được giữ lại trong nước, tỷ lệ nội địa hóa và có chỉ tiêu cụ thể về kết quả liên kết, chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước.
Về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đại biểu lưu ý, theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính, năm 2026 ngân sách nhà nước đã bố trí khoảng 95 nghìn tỷ đồng cho lĩnh vực này, nhưng sau 9 tháng, tỷ lệ giải ngân mới đạt 37,26% số vốn đã phân bổ, còn khoảng 24 nghìn tỷ đồng chưa được phân bổ. Theo đại biểu, điểm nghẽn không chỉ ở nguồn lực mà còn ở cơ chế phân bổ, khả năng hấp thụ vốn và năng lực ứng dụng công nghệ của doanh nghiệp.
Đại biểu đề nghị đổi mới cơ chế quản lý, đánh giá hiệu quả đầu tư khoa học, công nghệ theo sản phẩm đầu ra và tác động thực tế đối với nghiên cứu ứng dụng; đồng thời có tiêu chí phù hợp với đặc thù nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu chính sách. Cùng với tháo gỡ rào cản trong sử dụng Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, cần hình thành các chương trình khoa học, công nghệ quốc gia và cấp vùng gắn với những bài toán phát triển cụ thể.

Đối với Bắc Trung Bộ, đại biểu kiến nghị ưu tiên kinh tế biển, cảng biển, logistics, du lịch biển đảo, năng lượng tái tạo, khí LNG và trung tâm dữ liệu. Đối với miền núi, chú trọng phát triển kinh tế dưới tán rừng, khai thác giá trị dược liệu và tri thức bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số để tạo sinh kế bền vững. Đồng thời, quan tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, nhất là chính sách, thể chế, mô hình phát triển mới và tác động xã hội của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo.
Cùng quan tâm đến hiệu quả sử dụng nguồn lực, ĐBQH Nguyễn Minh Sơn (Đồng Tháp) ghi nhận những kết quả tích cực về kinh tế - xã hội trong 9 tháng đầu năm 2026, với GDP tăng 9,01%, thu ngân sách nhà nước ước đạt khoảng 3,06 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, việc tổ chức thực hiện chính sách vẫn còn những điểm nghẽn trong triển khai dự án hạ tầng, thực thi pháp luật về đất đai, phát triển doanh nghiệp và năng lượng. Đáng chú ý, hơn 20.000 tỷ đồng vốn dành cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thể giải ngân do vướng mắc về thể chế.
.jpg)
Đại biểu đề nghị rà soát, hoàn thiện quy định pháp luật về đầu tư, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận tín dụng, đất đai và giải ngân vốn. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế giá điện theo hướng linh hoạt, đa dạng hóa nhà đầu tư lưới điện truyền tải, tháo gỡ vướng mắc tại các dự án điện trọng điểm, bảo đảm an ninh năng lượng phục vụ tăng trưởng.
ĐBQH Nguyễn Minh Sơn cũng kiến nghị kích cầu tiêu dùng trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, nâng cao hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng nội địa trong xuất khẩu; đẩy mạnh hợp tác công - tư, sử dụng an toàn dư địa vay nợ công, ưu tiên đầu tư hạ tầng số, dữ liệu, năng lượng, khoa học, công nghệ và nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt, hiệu quả đầu tư công không nên chỉ đánh giá qua tỷ lệ giải ngân hay số công trình hoàn thành mà cần xem xét hiệu quả khai thác tài sản, mức giảm chi phí, năng suất tăng thêm, khả năng thu hút vốn tư nhân và đóng góp thực tế cho phúc lợi xã hội.

Đổi mới điều hành, bảo đảm hiệu quả chính sách
Phát biểu tại Tổ, ĐBQH Dương Trung Ý (Đồng Tháp) cho rằng, những thay đổi về tổ chức bộ máy và không gian phát triển quốc gia mở ra nhiều cơ hội, nhưng cũng đặt ra thách thức trong tổ chức thực hiện. Dù thể chế từng bước được hoàn thiện, khâu thực thi chính sách vẫn còn những điểm nghẽn, nhất là về đất đai, đầu tư, quy hoạch và tài chính. Đại biểu dẫn số liệu 9 tháng năm 2026 có khoảng 172.000 doanh nghiệp rút khỏi thị trường; chi phí vốn, chi phí đầu vào cao và khó khăn trong mở rộng sản xuất, tiếp cận thị trường tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Đại biểu đề nghị điều hành tăng trưởng theo các kịch bản cụ thể trong những tháng cuối năm 2026, xác định rõ mục tiêu theo từng tháng, từng quý và lượng hóa đóng góp của các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, nông nghiệp cùng các cực tăng trưởng lớn. Đồng thời, tập trung tháo gỡ vướng mắc tại các dự án, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026; thúc đẩy công nghiệp chế biến, chế tạo, bảo đảm điện, xăng dầu, nguyên liệu và nhân lực phục vụ sản xuất.

ĐBQH Dương Trung Ý cũng kiến nghị triển khai chương trình kích cầu tiêu dùng trên phạm vi cả nước, thúc đẩy thương mại, dịch vụ, du lịch và logistics; tháo gỡ điểm nghẽn về hạ tầng, nguồn lực, môi trường đầu tư, kết hợp điều hành linh hoạt chính sách tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng.
Ở góc độ thực hiện chính sách văn hóa, xã hội, ĐBQH Nguyễn Thị Uyên Trang (Đồng Tháp) đề nghị Chính phủ đặc biệt quan tâm duy trì đầy đủ các chính sách mang tính phúc lợi trong quá trình tinh gọn đầu mối, tập trung nguồn lực thực hiện các chương trình, chính sách.
Theo đại biểu, mỗi chương trình trước đây được thiết kế nhằm giải quyết những yêu cầu cụ thể, với đối tượng thụ hưởng và điều kiện thực hiện khác nhau. Vì vậy, khi triển khai chương trình sau hợp nhất, cần theo dõi các nhiệm vụ đặc thù và những nhóm thụ hưởng có thể bị ảnh hưởng về mức độ hoặc điều kiện thực hiện chính sách; kịp thời điều chỉnh trách nhiệm, phương thức phân bổ nguồn lực và cơ chế phối hợp, bảo đảm các mục tiêu phát triển văn hóa, xã hội được thực hiện liên tục, hiệu quả.

Đại biểu cũng đề nghị làm rõ trách nhiệm chủ trì và phối hợp trong giải quyết những vấn đề xã hội có tính liên ngành. Theo đại biểu, dù hệ thống chính sách về giáo dục, y tế, văn hóa và an sinh xã hội từng bước được hoàn thiện, nhu cầu và khó khăn thực tế của người dân không phải lúc nào cũng phân định theo ranh giới quản lý của từng ngành. Do đó, cần rà soát cơ chế phối hợp hiện hành, xác định những nội dung còn bất cập để điều chỉnh, hạn chế phát sinh thêm thủ tục hành chính.
Dẫn ví dụ về dịch vụ công trực tuyến, đại biểu đề nghị đánh giá mức độ đồng bộ, thống nhất trong liên thông giữa các bộ, ngành, bảo đảm người dân và doanh nghiệp thực sự được hưởng lợi từ chính sách, trên cơ sở tận dụng các chương trình, hệ thống thông tin và cơ chế phối hợp hiện có.
.jpg)
Cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển bao trùm, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú cho rằng, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân phải là mục tiêu và thước đo cuối cùng của tăng trưởng. Theo báo cáo thẩm tra được đại biểu dẫn lại, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong 9 tháng năm 2026 ở mức 8,87%; mức giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều năm 2026 ước đạt 0,5 điểm phần trăm, không đạt mục tiêu đề ra.
Đại biểu đề nghị Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027 chú trọng chất lượng việc làm, thu nhập, khả năng tiếp cận giáo dục, y tế và giảm nghèo bền vững. Việc phân bổ nguồn lực cho các vùng khó khăn cần căn cứ vào mức độ thiếu hụt hạ tầng, dịch vụ xã hội và nhu cầu phát triển thực tế, không chỉ dựa vào khả năng cân đối, đối ứng ngân sách địa phương.
Từ thực tiễn Nghệ An và Bắc Trung Bộ, đại biểu kiến nghị đầu tư hạ tầng kết nối các hành lang kinh tế Đông - Tây, miền núi với đồng bằng, cửa khẩu với cảng biển; phát triển kinh tế rừng bền vững và chuỗi giá trị sản phẩm đặc trưng địa phương. Đồng thời, đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tạo sinh kế bền vững, gắn đào tạo nghề, giải quyết việc làm tại chỗ, chuyển đổi sản xuất và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường với phát huy năng lực tự chủ kinh tế của người dân miền núi, biên giới.