Hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Góp ý vào dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, ĐBQH Nguyễn Khánh Vũ (Quảng Trị) đề nghị hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro tín dụng nhằm tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận vốn; đồng thời điều chỉnh chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ mặt bằng sản xuất và làm rõ điều kiện thụ hưởng, nguồn lực thực hiện, bảo đảm chính sách thực sự đến được với doanh nghiệp.
Gỡ vướng trong tiếp cận vốn và ưu đãi thuế
Nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, ĐBQH Nguyễn Khánh Vũ nhấn mạnh, việc đổi tên luật từ “hỗ trợ” sang “phát triển” chỉ thực sự có ý nghĩa khi chính sách đến được với doanh nghiệp.
Về tiếp cận vốn, đại biểu dẫn Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính, trong đó chỉ ra khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay là tiếp cận vốn vay, chủ yếu do thiếu tài sản bảo đảm.

Theo đại biểu, Luật năm 2017 quy định 3 công cụ hỗ trợ trực tiếp, gồm bảo lãnh tín dụng thông qua Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa; cho vay, tài trợ thông qua Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; cấp bù lãi suất cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị.
Tuy nhiên, dự thảo luật mới không còn quy định cụ thể về cả ba công cụ này. Điều 8 chủ yếu mang tính định hướng với các quy định như “Nhà nước có chính sách”, “Nhà nước khuyến khích”. Nội dung bảo lãnh tín dụng chỉ được đề cập tại điểm b khoản 2 Điều 35 về việc rà soát, sáp nhập hoặc giải thể quỹ bảo lãnh tín dụng. Trong khi đó, hỗ trợ lãi suất tại khoản 1 Điều 21 chỉ áp dụng đối với dự án xanh, dự án kinh tế tuần hoàn và dự án áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị.
Đại biểu nhìn nhận hoạt động của các quỹ thời gian qua còn hạn chế, song theo Báo cáo tổng kết của Bộ Tài chính, nguyên nhân thuộc về cơ chế, trong đó có yêu cầu bảo toàn vốn và việc chưa quy định tỷ lệ chấp nhận rủi ro. Vì vậy, cần hoàn thiện cơ chế hoạt động thay vì loại bỏ các công cụ chia sẻ rủi ro tín dụng.
Từ đó, ĐBQH Nguyễn Khánh Vũ đề nghị luật quy định nguyên tắc của cơ chế chia sẻ rủi ro tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; làm rõ mối quan hệ giữa điểm a khoản 2 Điều 35 của dự thảo với khoản 2 Điều 9 Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về chức năng của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, bởi khoản 1 Điều 35 của dự thảo vẫn cho phép doanh nghiệp lựa chọn áp dụng Nghị quyết này.
Đồng thời, cần bổ sung quy định chuyển tiếp đối với các hợp đồng bảo lãnh, hợp đồng cho vay đang thực hiện, tương tự quy định đối với các cam kết của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Luật năm 2017.

Về chính sách thuế, đại biểu lưu ý khoản 2 Điều 9 của dự thảo quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Tuy nhiên, ưu đãi miễn thuế chỉ có giá trị khi doanh nghiệp phát sinh thu nhập chịu thuế.
Theo kết quả khảo sát được nêu tại Báo cáo thẩm tra, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa phát sinh thu nhập chịu thuế hoặc có thu nhập chịu thuế không đáng kể trong 3 năm đầu hoạt động. Báo cáo thẩm tra cũng chỉ ra quy định này chưa thống nhất với Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Vì vậy, đại biểu đề nghị tính thời gian miễn thuế từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế, đồng thời quy định giới hạn thời gian chờ nhằm phòng ngừa việc lợi dụng chính sách.
Đối với đề xuất nâng ngưỡng doanh thu lên 10 tỷ đồng để doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh được lựa chọn phương pháp tính thuế đơn giản, đại biểu bày tỏ tán thành nhưng lưu ý sự chưa thống nhất về thời điểm áp dụng.
Cụ thể, khoản 1 Điều 34 quy định luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2027, trong khi khoản 1 và khoản 2 Điều 33 được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026. Như vậy, quyền lựa chọn phương pháp tính thuế trong kỳ lại gắn với một kỳ tính thuế đã kết thúc trước khi luật có hiệu lực.
Đại biểu đề nghị quy định Điều 33 có hiệu lực sớm hơn, làm rõ cách thức áp dụng đối với kỳ tính thuế năm 2026; đồng thời rà soát để thống nhất với dự án luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp trình Quốc hội tại kỳ họp này, tránh hai luật cùng sửa đổi một nội dung.
Hỗ trợ mặt bằng sản xuất, bảo đảm đúng đối tượng thụ hưởng
Đối với chính sách tiếp cận mặt bằng sản xuất, ĐBQH Nguyễn Khánh Vũ dẫn Báo cáo thẩm tra nhận xét Điều 10 của dự thảo về cơ bản vẫn tiếp tục hình thức hỗ trợ gián tiếp thông qua chủ đầu tư hạ tầng, nên tác động thực chất đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế.
Đại biểu đề nghị xác định hình thức cấp phiếu hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp thanh toán tiền thuê là phương thức chính, thay vì chỉ là một trong hai phương thức được lựa chọn như quy định tại điểm b khoản 6 Điều 10.

Cùng với đó, cần bổ sung nghĩa vụ hoàn trả ngân sách đối với chủ đầu tư đã nhận hỗ trợ nhưng không dành diện tích cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê, thuê lại. Theo đại biểu, dự thảo hiện mới có cơ chế xử lý đối với khu công nghiệp, cụm công nghiệp không nhận hỗ trợ đầu tư của Nhà nước.
Đại biểu cũng đề nghị xác định rõ chủ sở hữu và trách nhiệm quản lý đối với tài sản hạ tầng hình thành từ nguồn hỗ trợ của ngân sách địa phương. Bởi khoản 6 Điều 5 của dự thảo loại trừ tài sản này khỏi phạm vi tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi điểm b khoản 1 Điều 10 lại quy định tài sản này không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.
Liên quan đến việc xác định đối tượng thụ hưởng, đại biểu lưu ý Luật năm 2017 sử dụng tiêu chí số lao động tham gia bảo hiểm xã hội để xác định quy mô doanh nghiệp và quy định doanh nghiệp được nhận hỗ trợ khi đã thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật.
Trong khi đó, dự thảo chuyển sang tiêu chí “số lao động sử dụng bình quân năm” và không còn quy định tương ứng về điều kiện tuân thủ pháp luật khi nhận hỗ trợ. Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ lý do điều chỉnh, đồng thời quy định điều kiện tuân thủ nghĩa vụ bảo hiểm xã hội đối với người lao động khi doanh nghiệp nhận hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.
Đối với chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh, Điều 20 của dự thảo không còn điều kiện hộ kinh doanh phải hoạt động sản xuất, kinh doanh liên tục ít nhất một năm như Luật năm 2017. Đại biểu đề nghị làm rõ lý do bãi bỏ điều kiện này và có biện pháp bảo đảm chính sách đến đúng các hộ kinh doanh chuyển đổi thực chất.
Một nội dung khác được ĐBQH Nguyễn Khánh Vũ quan tâm là nguồn lực triển khai chính sách tại cấp xã. Theo khoản 3 Điều 26 của dự thảo, UBND cấp xã được giao nhiều nhiệm vụ, từ hỗ trợ thông tin, tư vấn ban đầu đến tiếp nhận hồ sơ, hướng dẫn doanh nghiệp và cập nhật dữ liệu. Tuy nhiên, trách nhiệm bố trí nguồn lực mới được quy định đối với HĐND cấp tỉnh tại điểm a khoản 1 Điều 26.
Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo lượng hóa nhu cầu ngân sách theo yêu cầu của Báo cáo thẩm tra, đồng thời quy định rõ trách nhiệm bố trí nguồn lực, đào tạo cán bộ tương ứng với nhiệm vụ giao cho cấp xã, bảo đảm điều kiện triển khai chính sách trong thực tiễn.