Tạo lập hạ tầng để doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ động tiếp cận nguồn lực
Chiều 17/10, thảo luận tại Tổ 9 (Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình và thành phố Huế), các ĐBQH đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định theo hướng đổi mới tư duy quản lý, đẩy mạnh hậu kiểm dựa trên mức độ rủi ro, tạo lập hạ tầng để doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ động tiếp cận nguồn lực. Đồng thời, bảo đảm phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm trong tổ chức và vận hành thị trường chứng khoán…
Từ hỗ trợ trực tiếp đến kiến tạo năng lực phát triển doanh nghiệp
Tán thành sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và định hướng đổi tên thành Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, các đại biểu cho rằng, dự án luật này đòi hỏi một bước chuyển sâu hơn trong tư duy xây dựng chính sách: từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo lập môi trường, hạ tầng và thể chế để doanh nghiệp chủ động tiếp cận nguồn lực, nâng cao năng lực và phát triển bằng sức cạnh tranh của chính mình.
Đại biểu Lê Văn Thế (Ninh Bình) cho rằng, Nhà nước không chỉ hỗ trợ trực tiếp, mà phải tạo lập môi trường, hạ tầng và thể chế để doanh nghiệp có thể tự tiếp cận nguồn lực, nâng cao năng lực và phát triển bằng sức cạnh tranh của chính mình.

Cũng theo đại biểu, một trong những điểm nghẽn lớn là tình trạng bất cân xứng thông tin trong tiếp cận tín dụng. Không ít doanh nghiệp nhỏ và vừa có phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, có dòng tiền, đơn hàng, doanh thu thực tế và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước, nhưng lại hạn chế về tài sản bảo đảm. Khi những thông tin phản ánh năng lực thực tế chưa được chuẩn hóa, xác thực và kết nối thuận lợi, tổ chức tín dụng sẽ khó đánh giá đầy đủ khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Dự thảo đã đề cập việc xem xét cấp vốn trên cơ sở phương án sản xuất, kinh doanh, khả năng trả nợ, doanh thu, dòng tiền, dữ liệu giao dịch và các thông tin hợp pháp khác; đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển hạ tầng dữ liệu, thúc đẩy kết nối và chia sẻ dữ liệu phục vụ đánh giá tín dụng. Tuy nhiên, cần làm rõ hơn mục tiêu khai thác dữ liệu: không chỉ phục vụ kết nối thông tin giữa các cơ quan, tổ chức, mà phải giúp doanh nghiệp chứng minh năng lực tài chính, nâng cao khả năng được đánh giá tín nhiệm và tiếp cận vốn.
Theo đó, đại biểu đề nghị sửa điểm b khoản 4 Điều 8 theo hướng “Thúc đẩy kết nối, chia sẻ và khai thác hợp pháp dữ liệu giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng vốn, tổ chức xếp hạng tín nhiệm và các chủ thể có liên quan để phục vụ đánh giá năng lực tài chính, khả năng trả nợ, xếp hạng tín nhiệm, chấm điểm tín dụng và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu phải đúng mục đích, đúng thẩm quyền, bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh và quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật”.
Đồng thời, đề nghị rà soát tương ứng khoản 4 Điều 16 và khoản 4 Điều 25 để xác lập rõ trách nhiệm cập nhật, chuẩn hóa, kết nối dữ liệu của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm phối hợp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong khai thác dữ liệu phục vụ đánh giá tín dụng, bảo đảm thống nhất với nguyên tắc tại Điều 8.
Đại biểu Lê Văn Thế nhấn mạnh, mở rộng khả năng khai thác dữ liệu không đồng nghĩa với can thiệp vào quyền quyết định cấp tín dụng của tổ chức tín dụng. Nhà nước tạo hạ tầng để thị trường nhìn thấy doanh nghiệp rõ hơn, còn việc thẩm định, quyết định cho vay và quản trị rủi ro vẫn phải tuân thủ pháp luật về ngân hàng và nguyên tắc thị trường. Nếu được điều chỉnh theo hướng này, chúng ta sẽ có một bước chuyển khá rõ từ “Nhà nước trực tiếp cấp hỗ trợ” sang “Nhà nước tạo hạ tầng để doanh nghiệp tự tiếp cận nguồn lực”.

Thống nhất với việc dự thảo đã mở rộng căn cứ xem xét cấp vốn trên cơ sở phương án sản xuất, kinh doanh, khả năng trả nợ, doanh thu, dòng tiền, dữ liệu giao dịch; đồng thời mở rộng biện pháp bảo đảm sang quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản hình thành trong tương lai, đại biểu Trần Thế Anh cho rằng, cần bổ sung rõ hơn cơ chế thực hiện để những quy định này thực sự trở thành công cụ giúp doanh nghiệp tiếp cận vốn.

Trước hết, tại khoản 4, đề nghị làm rõ cơ chế kết nối, chia sẻ và xác thực dữ liệu phục vụ đánh giá tín dụng. Có thể nghiên cứu bổ sung theo hướng: “Trên cơ sở sự đồng ý của doanh nghiệp và theo quy định của pháp luật về dữ liệu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện kết nối, chia sẻ, xác thực dữ liệu do Nhà nước quản lý để tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng vốn khai thác phục vụ đánh giá cấp vốn.” Mục tiêu là để doanh thu, dòng tiền, dữ liệu giao dịch và lịch sử tuân thủ của doanh nghiệp có thể được sử dụng trong đánh giá tín dụng, từng bước giảm sự phụ thuộc quá lớn vào bất động sản thế chấp.
Đại biểu cũng đề nghị bổ sung một khoản vào Điều 8 giao Chính phủ quy định chi tiết cơ chế thực hiện, trong đó tập trung vào kết nối, xác thực dữ liệu; định giá, đăng ký và xử lý tài sản bảo đảm phi truyền thống. Đồng thời, làm rõ các công cụ bảo lãnh, chia sẻ rủi ro phù hợp đối với doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi nhưng thiếu tài sản bảo đảm truyền thống. Việc này không nhằm can thiệp vào quyền tự chủ cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, mà tạo thêm cơ sở để tổ chức tín dụng đánh giá đầy đủ hơn năng lực thực tế của doanh nghiệp.
Không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại thông tin đã có hoặc có thể khai thác
Cho ý kiến về nguyên tắc hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa, đại biểu Trần Thị Hiền (Ninh Bình) cho biết: tại khoản 2 Điều 5 đã ghi nhận nguyên tắc “Ưu tiên triển khai toàn diện các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa để tạo tác động và kết quả thực chất; hỗ trợ theo lộ trình nâng cấp doanh nghiệp để khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển lên quy mô lớn hơn.

Theo đại biểu Trần Thị Hiền, việc ghi nhận nguyên tắc này là một bước tiến rất thực chất của quá trình sửa luật, nhưng nguyên tắc này sẽ hoàn thiện hơn nếu bổ sung thêm nội dung “khuyến khích liên kết sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng suất, giá trị gia tăng và vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị, chuỗi liên kết”. Do đó, đại biểu đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu, chỉnh lý Khoản 2 Điều 5 để bổ sung thêm nội dung này. Đồng thời tại Điều 31 về Kiểm tra, đánh giá hoạt động phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần nghiên cứu, bổ sung tiêu chí đánh giá về cải thiện năng suất, chất lượng; năng lực công nghệ, doanh thu từ quan hệ cung ứng và khả năng duy trì hoạt động tham gia chuỗi giá trị.
Liên quan đến đơn giản hóa thủ tục thuế, kế toán, đại biểu Trần Thị Hiền đề nghị quy định cụ thể những nội dung được đơn giản hóa, mang ý nghĩa là những tuyên bố cải cách rõ ràng, minh bạch để cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ tiếp cận, thay cho việc dẫn chiếu sang pháp luật chuyên ngành.
Mặt khác, Chính phủ cần rà soát và ban hành danh mục thủ tục, hồ sơ được giảm; có giải pháp đẩy mạnh liên thông, chia sẻ dữ liệu điện tử; đặc biệt là cần thực hiện nghiêm nguyên tắc “Không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại thông tin cơ quan nhà nước đã có hoặc có thể khai thác” tại Khoản 3 Điều 5. Điều này sẽ giúp đa số doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn hạn chế về nhân sự sẽ giảm thiểu chi phí kế toán, hóa đơn và kê khai; cơ quan thuế giảm xử lý hồ sơ trùng lặp; nguồn lực của doanh nghiệp được tập trung cho sản xuất, trả lương và mở rộng việc làm.

Về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, đại biểu đề nghị nghiên cứu sửa theo hướng: thời hạn miễn thuế được tính từ năm đầu tiên doanh nghiệp phát sinh thu nhập chịu thuế, nhưng phải quy định thời hạn tối đa kể từ ngày thành lập để tránh kéo dài hoặc trì hoãn thời điểm hưởng ưu đãi. Đồng thời, cần quy định rõ trường hợp doanh nghiệp đồng thời đủ điều kiện hưởng nhiều ưu đãi thuế thì nguyên tắc lựa chọn, áp dụng ưu đãi được thực hiện thống nhất với pháp luật thuế; không để doanh nghiệp phải tự suy đoán hoặc phát sinh cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan.
Bảo đảm linh hoạt trong tổ chức, rõ ràng về thẩm quyền
Cho ý kiến vào dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, đại biểu Lê Văn Thế (Ninh Bình) đề nghị rà soát mối quan hệ giữa khoản 2 Điều 43 và Điều 46 của dự án Luật.

Đồng tình với cách tiếp cận của dự thảo là không tiếp tục đóng cứng một mô hình tổ chức cụ thể của Sở giao dịch chứng khoán trong Luật, qua đó tạo dư địa để Chính phủ lựa chọn mô hình phù hợp trong từng giai đoạn. Song, đại biểu Lê Văn Thế cho rằng, cần phân định rõ giữa thẩm quyền quyết định mô hình tổ chức với thẩm quyền xác lập chức năng, quyền và nghĩa vụ của Sở giao dịch chứng khoán.
Khoản 2 Điều 43 dự thảo hiện quy định Thủ tướng Chính phủ quyết định việc thành lập, giải thể, mô hình hoạt động, hình thức sở hữu, cơ cấu lại vốn nhà nước, đồng thời quyết định cả chức năng, quyền và nghĩa vụ của các Sở giao dịch chứng khoán.
Trong khi đó, Điều 46 của Luật đã quy định khá đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của Sở giao dịch chứng khoán: tổ chức, vận hành thị trường; cảnh báo, kiểm soát, hạn chế hoặc tạm ngừng giao dịch; chấp thuận niêm yết, đăng ký giao dịch; giám sát giao dịch; kiểm tra thành viên và bảo đảm thị trường công khai, công bằng, trật tự, an toàn, hiệu quả. Khoản 4 Điều 46 còn quy định Thủ tướng Chính phủ quyết định việc tổ chức, phân công thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó theo quy định của Luật.
Do đó, cần làm rõ phạm vi thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ theo hướng quyết định mô hình tổ chức, việc tổ chức và phân công thực hiện các chức năng, quyền và nghĩa vụ đã được Luật xác lập. Quốc hội quy định những nội dung cơ bản thuộc về thiết chế vận hành thị trường; Chính phủ tổ chức thực hiện trên cơ sở khuôn khổ pháp lý đó.
Cách thiết kế này vừa bảo đảm tính linh hoạt trong tổ chức bộ máy, vừa giữ vững ranh giới giữa nội dung thuộc thẩm quyền lập pháp và thẩm quyền tổ chức thi hành. Đồng thời, nội dung về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng cần được rà soát để bảo đảm thống nhất với pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tránh chồng lấn về thẩm quyền.

Cho ý kiến về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán và các tài liệu trong hồ sơ dự án Luật, các đại biểu cơ bản thống nhất với sự cần thiết sửa đổi Luật lần này, nhất là các nội dung nhằm tháo gỡ vướng mắc, cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán.
Không để rủi ro dồn lên người dân và nhà đầu tư
Cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành dự án luật nhằm thể chế hóa các nghị quyết của Bộ Chính trị, đặc biệt trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam vừa được các tổ chức quốc tế nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp (từ ngày 21/9/2026), đại biểu Trần Văn Khải (Ninh Bình) cho biết: với quy mô lớn có tới 13,16 triệu tài khoản giao dịch (chiếm khoảng 13% dân số), luật này có tác động trực tiếp đến dòng tiền, tài sản và dữ liệu của hàng triệu nhà đầu tư. Do đó, việc mở ra không gian đổi mới sáng tạo, đặc biệt là công nghệ tài chính (fintech) phải luôn đi đôi với nguyên tắc cốt lõi là không để rủi ro dồn lên người dân và nhà đầu tư.

Đại biểu Trần Văn Khải cho biết, dự thảo đang quy định loại trừ trách nhiệm cho mọi chủ thể bằng một câu dẫn chiếu còn chung chung. Đại biểu đề nghị việc miễn, loại trừ trách nhiệm chỉ được xem xét khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định, không áp dụng đối với hành vi gian lận, cố ý vi phạm hoặc đã biết rõ nguy cơ rủi ro nhưng không phòng ngừa, cảnh báo kịp thời.
Đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 4: việc miễn loại trừ trách nhiệm chỉ được xem xét khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của điều 22 Luật Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo, không áp dụng đối với hành vi gian lận cố ý vi phạm đã biết nguy cơ rủi ro mà vẫn không phòng ngừa không cảnh báo kịp thời
Về trách nhiệm của các bên tham gia thử nghiệm, đại biểu cho rằng có sự chênh lệch giữa quy định tại khoản 5 (Điều 6a) với Điều 24 của dự thảo nghị định kèm theo, khi vô tình đẩy toàn bộ rủi ro và tổn thất phát sinh sang cho khách hàng. Dự thảo chưa phân định rõ rủi ro thị trường do nhà đầu tư tự nguyện chấp nhận với thiệt hại do lỗi của thuật toán, sự cố hệ thống hoặc lỗi chủ quan từ phía tổ chức thực hiện.
Đại biểu kiến nghị sửa đổi theo hướng: nhà đầu tư tham gia thử nghiệm trên cơ sở tự nguyện, được cung cấp đầy đủ thông tin cảnh báo rủi ro và đồng ý bằng văn bản/phương thức điện tử. Ngược lại, tổ chức thử nghiệm phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi vi phạm nghĩa vụ hoặc sự cố hệ thống thuộc phạm vi quản lý của mình; đồng thời phải tách biệt tài sản và bảo vệ dữ liệu cá nhân của khách hàng theo đúng quy định pháp luật.
Về thời hạn và giới hạn thử nghiệm, đại biểu cho biết, dự thảo giao Chính phủ quy định thời hạn thử nghiệm lên đến 5 năm và có thể tiếp tục gia hạn (không thống nhất với quy định tại khoản 4 Điều 21 của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo). Theo đại biểu, quy định như vậy không còn là một mô hình sandbox thử nghiệm mang tính giới hạn an toàn, mà giống như đưa một chính sách chưa được kiểm soát kỹ lưỡng vào vận hành thực tế trên thị trường. Vì vậy, đại biểu đề nghị luật hóa thời hạn thử nghiệm theo đúng tinh thần Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo; đồng thời giấy chứng nhận phải xác định rõ và công khai giới hạn số lượng khách hàng, giá trị giao dịch, phạm vi thử nghiệm, cũng như cơ chế chuyển giao tài sản, dữ liệu và giải quyết khiếu nại khi kết thúc hoặc tạm dừng thử nghiệm.
Tạo không gian pháp lý rộng mở hơn để nhiều doanh nghiệp đủ điều kiện phát hành cổ phiếu
Đồng tình với quan điểm trên, đại biểu Nguyễn Hải Nam (TP. Huế) cho rằng, dự thảo Luật lần này vẫn chủ yếu tập trung cắt giảm thủ tục hành chính và nâng một số hạn mức cho quỹ đầu tư. Trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam vừa được nâng hạng, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế (standard mới) để thu hút dòng vốn ngoại, vấn đề cốt lõi là phải “tạo hàng” cho thị trường. Do đó, luật cần tạo không gian pháp lý rộng mở hơn để nhiều doanh nghiệp đủ điều kiện phát hành cổ phiếu, đưa lên sàn, qua đó giúp nhà đầu tư có nhiều lựa chọn.

Bên cạnh đó, cần tăng cường các quy định về thanh tra, kiểm tra, giám sát trên thị trường, nhằm ngăn chặn hiệu quả các hành vi thao túng, đầu cơ; đồng thời chú trọng các tiêu chí cảnh báo sớm, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nhỏ lẻ có nguồn vốn và năng lực quản lý rủi ro hạn chế.
Góp ý về mô hình tổ chức thị trường và sắp xếp các sở giao dịch chứng khoán, đại biểu ủng hộ phương án không quy định cứng mô hình tổ chức trong Luật mà giao Chính phủ sắp xếp lại hệ thống các sở giao dịch. Với sự phát triển của công nghệ thông tin hiện đại như các nước tiên tiến, việc tinh gọn bộ máy vận hành sẽ giúp các sở hoạt động hiệu quả, thực chất và hiện đại hơn.