Kiến tạo môi trường để doanh nghiệp phát triển, lớn mạnh
Thảo luận tại tổ 7 gồm Đoàn ĐBQH TP. Bắc Ninh và tỉnh Lâm Đồng, các đại biểu đề nghị, dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển từ "đông về số lượng" sang "mạnh về năng lực, cao về năng suất và lớn về quy mô".

Tháo gỡ rủi ro trong cấp tín dụng
Đánh giá cao sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và chuyển thành Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) cho rằng, đây không đơn thuần là sự thay đổi về tên gọi, mà là sự chuyển đổi căn bản trong tư duy xây dựng chính sách: từ hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục khó khăn sang kiến tạo môi trường và động lực để doanh nghiệp phát triển, lớn mạnh và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Đại biểu Nguyễn Như So (TP. Bắc Ninh) cho rằng, lần sửa đổi này cần được đặt trong một cách tiếp cận rộng hơn: không chỉ sửa những chính sách hỗ trợ, mà phải đổi mới phương thức Nhà nước kiến tạo phát triển cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa; chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo lập môi trường và thị trường thuận lợi, từ xử lý các khó khăn riêng lẻ sang tháo gỡ các rào cản mang tính cấu trúc, để nguồn lực xã hội được phân bổ hiệu quả hơn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển từ "đông về số lượng" sang "mạnh về năng lực, cao về năng suất và lớn về quy mô".

Về chính sách tiếp cận nguồn vốn, đại biểu Nguyễn Như So nêu rõ, dự thảo luật đã có bước tiến về tư duy khi mở rộng từ cho vay dựa vào tài sản bảo đảm sang dòng tiền, dữ liệu giao dịch, tài trợ chuỗi cung ứng, quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, chính sách mới chỉ dừng lại ở các cụm từ định tính như "khuyến khích", "tạo điều kiện" hay "thúc đẩy", chưa tạo ra cơ chế đủ rõ để Ngân hàng dám cho vay và doanh nghiệp thực sự tiếp cận được nguồn vốn.
Đại biểu Nguyễn Như So đề nghị cơ quan soạn thảo cần tập trung tháo gỡ 3 điểm nghẽn.

Thứ nhất, phải tháo gỡ rủi ro trong cấp tín dụng. Muốn ngân hàng mạnh dạn cho vay dựa trên dòng tiền và dữ liệu thay vì tài sản thế chấp, trước hết phải tạo hành lang pháp lý đủ rõ ràng cho người thực thi. Cần phân định rạch ròi giữa rủi ro kinh doanh khách quan và hành vi vi phạm pháp luật; cán bộ tín dụng làm đúng quy trình, đúng thẩm quyền, dựa trên thông tin hợp pháp thì việc khoản vay phát sinh nợ xấu không nên mặc nhiên quy kết trách nhiệm cá nhân. Nếu không giải quyết được tâm lý sợ rủi ro trong quyết định tín dụng, rất khó kỳ vọng ngân hàng mạnh dạn sử dụng những phương thức cấp vốn mới.

Thứ hai, phải coi dữ liệu là một loại hạ tầng của thị trường vốn. Khoản 4, Điều 8 mới dừng ở "khuyến khích kết nối, chia sẻ dữ liệu", trong khi dữ liệu về thuế, hóa đơn điện tử, bảo hiểm, hải quan và giao dịch kinh doanh còn phân tán ở nhiều cơ quan.
Đại biểu cho rằng, cần thiết lập cơ chế kết nối và chia sẻ dữ liệu theo chuẩn thống nhất, trên cơ sở doanh nghiệp đồng ý và bảo đảm an toàn và bảo mật thông tin. Có dữ liệu chuẩn, ngân hàng mới có thể chấm điểm tín dụng tự động và cho vay không cần tài sản thế chấp.

Thứ ba, phải giải quyết được bài toán định giá và xử lý tài sản vô hình. Đại biểu Nguyễn Như So đề nghị, Chính phủ ban hành tiêu chuẩn định giá tài sản vô hình và quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời thành lập hoặc chỉ định Trung tâm trung gian phát mại, xử lý tài sản vô hình và khoản phải thu khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
Đại biểu phân tích, hiện nay ngân hàng không có công cụ định giá quyền sở hữu trí tuệ, phần mềm hay đơn hàng và nếu nợ xấu xảy ra, họ không có thị trường để xử lý hay phát mại các tài sản này. Chỉ khi giải quyết được bài toán "định được giá - bán được tài sản", chúng ta mới có thể biến quyền sở hữu trí tuệ và dòng tiền hợp đồng thành tài sản thế chấp thực sự của doanh nghiệp.

Bổ sung cơ chế hỗ trợ phụ nữ dân tộc thiểu số
Đại biểu Cil Bri (Lâm Đồng) cũng đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự án luật theo hướng chuyển mạnh từ hỗ trợ mang tính hình thức sang kiến tạo cơ hội phát triển thực chất. Trong đó, cần quan tâm đúng mức đến nhóm tiềm năng đang gặp nhiều rào cản như: phụ nữ dân tộc thiểu số có khát vọng khởi nghiệp, vươn lên bằng chính năng lực của mình.

Đại biểu Cil Bri chỉ rõ, phụ nữ dân tộc thiểu số có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển kinh tế, đó là kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, tri thức bản địa, nghề thủ công, khả năng chế biến nông sản, sản phẩm đặc trưng của địa phương, du lịch cộng đồng và khai thác các giá trị văn hóa dân tộc.
“Nếu được hỗ trợ đúng cách, những lợi thế này hoàn toàn có thể trở thành các mô hình kinh doanh hiệu quả, tạo sinh kế ổn định, tạo việc làm tại chỗ và góp phần phát triển kinh tế của địa phương”, đại biểu nhấn mạnh.

Tuy nhiên, đại biểu cho biết, nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số vẫn còn gặp không ít những rào cản: thiếu vốn khởi nghiệp, khó tiếp cận tín dụng, hạn chế về những kiến thức quản trị cũng như pháp luật kinh doanh, thiếu kỹ năng ứng dụng công nghệ số, chưa có điều kiện tiếp cận thị trường và các kênh phân phối sản phẩm.
Đáng chú ý, nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số đã có ý tưởng, có sản phẩm, có khả năng tổ chức sản xuất nhưng chưa đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp. Nếu chính sách chỉ tập trung hỗ trợ những doanh nghiệp đã được thành lập, chúng ta có thể bỏ lỡ một nguồn lực khởi nghiệp rất quan trọng ngay từ cơ sở.

Vì vậy, đại biểu Cil Bri đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung cơ chế hỗ trợ phụ nữ dân tộc thiểu số ngay từ giai đoạn hình thành ý tưởng cũng như chuẩn bị khởi nghiệp, không chỉ sau khi đã đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Các nội dung hỗ trợ cần thiết gồm: tư vấn xây dựng phương án kinh doanh; đào tạo kỹ thuật, kỹ năng cũng như kế toán và pháp luật; hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn phù hợp; hướng dẫn đăng ký kinh doanh, thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã; hỗ trợ xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, ứng dụng thương mại điện tử và kết nối thị trường tiêu thụ.

Đại biểu cho rằng, cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ thông qua các chương trình ươm tạo khởi nghiệp tại địa phương, tổ chức Hội Phụ nữ, các hợp tác xã, Hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức có năng lực hỗ trợ kinh doanh. Phương thức triển khai cần linh hoạt để tiếp cận phù hợp với điều kiện sinh sống, trình độ công nghệ của phụ nữ tại các địa phương.