Lo ngại rủi ro khi bỏ quy định quản lý tiền thu hộ COD
ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng) đề nghị làm rõ cơ chế kiểm soát rủi ro, bảo vệ tiền thu hộ của người bán hàng khi đưa hoạt động này ra khỏi phạm vi điều chỉnh của Luật Bưu chính (sửa đổi).
.jpg)
Cuối giờ sáng 17/10, Tổ 3 (gồm Đoàn ĐBQH: TP. Hải Phòng, Lạng Sơn và Hà Tĩnh) thảo luận tại tổ về dự án Luật Bưu chính (sửa đổi); và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường.
Góp ý dự thảo Luật Bưu chính (sửa đổi), ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng) cho biết, cơ quan thẩm tra từng đề nghị bổ sung cơ chế quản lý tiền thu hộ khi giao hàng (COD), trong đó yêu cầu doanh nghiệp tách bạch dòng tiền, mở tài khoản riêng tại tổ chức tín dụng, thực hiện đối soát và hoàn trả trong thời hạn quy định. Tuy nhiên, cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiếp thu theo hướng bỏ quy định này, với lý do COD là dịch vụ cộng thêm, nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật Bưu chính.
Đại biểu cho rằng việc loại bỏ quy định có thể phù hợp với phạm vi điều chỉnh của luật, song cần giải trình rõ cơ chế quản lý thay thế, bởi "nó không làm mất đi rủi ro trên thực tế".
.jpg)
Theo đại biểu, dòng tiền thu hộ luân chuyển qua các doanh nghiệp bưu chính mỗi năm lớn hơn nhiều lần doanh thu toàn ngành. Nếu hoạt động này không còn chịu sự điều chỉnh của Luật Bưu chính, trong khi chưa xác định rõ các quy định pháp luật khác có thể kiểm soát đầy đủ rủi ro, quyền lợi của người sử dụng dịch vụ sẽ khó được bảo đảm.
"Khi một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, tiền thu hộ của hàng vạn hộ kinh doanh, hợp tác xã có thể bị chiếm dụng hoặc mất", đại biểu cảnh báo.
Từ thực tế này, ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn kiến nghị hai phương án: giữ lại trong luật quy định mang tính nguyên tắc tối thiểu về quản lý tiền thu hộ; hoặc giải trình rõ văn bản pháp luật nào sẽ điều chỉnh hoạt động COD, bảo đảm kiểm soát rủi ro và bảo vệ người sử dụng dịch vụ sau khi nội dung này được đưa ra khỏi Luật Bưu chính.
Quy định về đất cho mạng bưu chính cần phù hợp pháp luật hiện hành
Liên quan đến việc bố trí quỹ đất cho mạng bưu chính công cộng, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng quy định tại dự thảo đúng định hướng nhưng cần được rà soát để bảo đảm tính khả thi và thống nhất với pháp luật về đất đai, quy hoạch.

Theo đại biểu, khái niệm "bố trí quỹ đất" chưa tương ứng với một cơ chế pháp lý cụ thể trong Luật Đất đai năm 2024. Pháp luật đất đai quy định các bước từ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến thu hồi, giao đất hoặc cho thuê đất, trong khi việc "bố trí quỹ đất" chưa làm rõ quyền được xác lập và đối tượng thụ hưởng.
Bên cạnh đó, định hướng phát triển bưu chính được tích hợp trong quy hoạch tỉnh, không có quy hoạch ngành riêng ở cấp tỉnh. Trong khi đó, mạng bưu chính công cộng gồm hàng nghìn điểm phục vụ nhỏ, phân tán, gây khó khăn cho việc xác định cụ thể nhu cầu sử dụng đất trong kế hoạch sử dụng đất.
Đại biểu cũng lưu ý nguy cơ phát sinh vướng mắc với quy định về đấu giá, đấu thầu khi giao đất cho doanh nghiệp bưu chính. Theo phân tích của đại biểu, pháp luật hiện hành chưa có trường hợp riêng cho phép giao đất không qua đấu giá đối với doanh nghiệp bưu chính. Đặc biệt, doanh nghiệp được giao quản lý mạng bưu chính công cộng có thể đồng thời thực hiện nhiệm vụ công ích và kinh doanh thương mại.
Nếu thiếu quy định phân định rõ hai hoạt động này, việc giao đất theo cơ chế ưu tiên có thể dẫn đến nguy cơ bù chéo chi phí, tạo lợi thế cạnh tranh không bình đẳng.
ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị sửa quy định theo hướng UBND cấp tỉnh xác định nhu cầu sử dụng đất cho công trình mạng bưu chính công cộng phục vụ dịch vụ công ích trong quy hoạch tỉnh và kế hoạch sử dụng đất; việc giao đất, cho thuê đất thực hiện theo pháp luật về đất đai.
Trường hợp áp dụng cơ chế ưu tiên giao đất không qua đấu giá, đại biểu kiến nghị chỉ giới hạn đối với công trình không nhằm mục đích kinh doanh, đồng thời bổ sung căn cứ pháp lý tương ứng và yêu cầu hạch toán tách bạch giữa hoạt động công ích với kinh doanh thương mại.
Đại biểu nhấn mạnh, Luật Đất đai đã có quy định cho phép thu hồi đất để xây dựng công trình hạ tầng bưu chính, viễn thông. Vì vậy, "cơ sở tạo quỹ đất là có - vấn đề là phải diễn đạt đúng công cụ pháp lý", bảo đảm quy định khi ban hành có thể triển khai trong thực tế.
Đề nghị thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về đo lường
Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường, ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng quy định về liên kết đo lường và thừa nhận kết quả quốc tế chưa được cụ thể hóa đầy đủ, trong khi thẩm quyền quản lý giữa các cơ quan còn thiếu thống nhất.
Theo đại biểu, dự thảo yêu cầu độ chính xác của phép đo phải được truyền từ chuẩn đo lường qua một chuỗi liên tục, nhưng chưa quy định rõ năng lực của tổ chức hiệu chuẩn và yêu cầu liên kết kết quả tới chuẩn quốc gia. "Luật yêu cầu chuỗi không đứt đoạn ở đầu ra, nhưng không ràng buộc chính các mắt xích tạo nên chuỗi đó", đại biểu nhận xét.
Những bất cập này cần được xem xét trong bối cảnh khả năng thừa nhận quốc tế về đo lường của Việt Nam còn hạn chế. Theo số liệu đại biểu dẫn, Việt Nam mới có 31 khả năng đo và hiệu chuẩn được quốc tế thừa nhận, thấp hơn nhiều so với Singapore (462), Thái Lan (410), Indonesia (181) và Malaysia (144). Trong khi đó, hơn 3.000 mẫu phương tiện đo nhập khẩu mỗi năm vẫn được xem xét miễn, giảm thử nghiệm theo từng trường hợp.
Để khắc phục, đại biểu đề nghị bổ sung khái niệm liên kết đo lường, quy định tổ chức hiệu chuẩn phải có năng lực được công nhận, kết quả bảo đảm liên kết tới chuẩn quốc gia; đồng thời thiết lập nguyên tắc thừa nhận kết quả quốc tế dựa trên mức độ tương đương về yêu cầu kỹ thuật và các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau mà Việt Nam là thành viên.
Về quản lý nhà nước, đại biểu chỉ ra dự thảo giao Chính phủ phân công cơ quan đầu mối nhưng vẫn giữ quy định trách nhiệm của Bộ Khoa học và Công nghệ. Đặc biệt, cùng nội dung về phép đo nhóm 2, Điều 30 giao Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết, trong khi Điều 55 lại giao thẩm quyền cho từng bộ theo ngành, lĩnh vực.
"Hai quy định cùng điều chỉnh một đối tượng, trong cùng một luật, nhưng giao cho hai chủ thể khác nhau", đại biểu nêu và đề nghị xác định rõ cơ quan đầu mối quốc gia ngay trong luật, hoặc thống nhất không định danh cơ quan tại các điều khoản liên quan.