Chủ trương miễn, giảm phí BOT: Bảo đảm quyền lợi người dân, minh bạch nguồn thu
Việc miễn, giảm giá dịch vụ sử dụng đường bộ tại các trạm BOT được thực hiện nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân, nhất là các phương tiện thuộc vùng lân cận trạm thu phí. Cùng với việc quy định rõ phạm vi, đối tượng và quy trình giảm giá, Cục Đường bộ Việt Nam tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý các trường hợp miễn, giảm không đúng đối tượng, bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động thu phí.
Bảo đảm công bằng, hài hòa lợi ích giữa các bên
Theo thông tin từ Cục Đường bộ Việt Nam, chính sách miễn, giảm giá dịch vụ sử dụng đường bộ tại các trạm BOT được triển khai trên cơ sở rà soát, xử lý những bất cập phát sinh trong quá trình đầu tư, khai thác các công trình giao thông theo hình thức hợp đồng BOT.

Trong giai đoạn đầu triển khai, đặc biệt trước năm 2017, hình thức thu phí theo lượt trên các tuyến quốc lộ bộc lộ một số hạn chế. Người dân sinh sống gần trạm thu phí, dù chỉ sử dụng một đoạn đường ngắn, vẫn phải trả mức phí tương đương phương tiện đi quãng đường dài. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân và hoạt động vận tải tại khu vực lân cận các trạm thu phí.
Để hạn chế bất cập, Bộ Tài chính và Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng) đã chấp thuận miễn phí đối với một số loại phương tiện như xe thô sơ, xe máy nông nghiệp, mô tô, xe máy; đồng thời yêu cầu nhà đầu tư bán vé tháng, vé quý. Tuy nhiên, từ đầu năm 2016 đến đầu năm 2018, tại một số trạm BOT vẫn xảy ra tình trạng người dân, chủ phương tiện phản đối chính sách thu phí, gây ùn tắc giao thông, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự.
Trước thực tế đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 437/NQ-UBTVQH14 ngày 21/10/2017, yêu cầu rà soát tổng thể vị trí đặt trạm, chính sách miễn, giảm giá dịch vụ sử dụng đường bộ và quản lý chặt chẽ doanh thu, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng.

Thực hiện chủ trương này, Bộ Giao thông vận tải ban hành Văn bản số 11519/BGTVT-ĐTCT ngày 11/10/2017 về xử lý bất cập trong mức giá dịch vụ sử dụng đường bộ tại các trạm BOT, trọng tâm là chính sách giảm giá đối với phương tiện vùng lân cận.
Theo đó, các phương tiện thuộc vùng lân cận trong bán kính từ 5 - 10km xung quanh trạm thu phí thuộc các dự án BOT do Bộ quản lý được xem xét giảm giá theo phương án áp dụng tại từng trạm. Thời điểm bắt đầu thực hiện được xác định bằng văn bản hướng dẫn riêng. Đối với các dự án BOT do địa phương quản lý, thẩm quyền định giá và quyết định chính sách miễn, giảm thuộc UBND cấp tỉnh.
Đáng chú ý, quy trình thực hiện giảm giá được xác định theo 6 bước, với sự phối hợp giữa UBND cấp tỉnh, Sở Xây dựng, Cục Đường bộ Việt Nam và nhà đầu tư. Trong đó, địa phương có trách nhiệm khảo sát, xác định khu vực dân cư chịu ảnh hưởng, thống kê số lượng phương tiện, đề xuất phạm vi và mức giảm giá. Nhà đầu tư đánh giá tác động của chính sách đến doanh thu và phương án tài chính của dự án để thống nhất phương án phù hợp.
Sau khi thống nhất, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm thông tin đến người dân, xác nhận, lập danh sách phương tiện được giảm giá và cập nhật định kỳ mỗi quý một lần, vào ngày 25 của tháng cuối quý.
Việc xác định rõ đối tượng, phạm vi và trách nhiệm của từng bên không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân sinh sống quanh trạm thu phí, mà còn tạo cơ sở để thực hiện chính sách thống nhất, minh bạch, hạn chế tình trạng áp dụng tùy tiện, ảnh hưởng đến phương án tài chính của các dự án BOT.
Tăng cường giám sát, xử lý nghiêm các trường hợp miễn, giảm không đúng đối tượng
Song song với việc hướng dẫn thực hiện chính sách miễn, giảm giá dịch vụ sử dụng đường bộ, Cục Đường bộ Việt Nam tăng cường công tác quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát hoạt động thu phí tại các dự án BOT.

Theo Cục Đường bộ Việt Nam, từ năm 2014 đến nay, cơ quan này thường xuyên tổ chức các đoàn kiểm tra định kỳ, đột xuất hoặc giám sát liên tục nhiều ngày tại các trạm thu phí BOT trên cả nước. Trung bình mỗi năm có trên 15 đoàn kiểm tra, giám sát; tổng số cuộc kiểm tra, giám sát đã vượt 150. Một số cuộc kiểm tra có sự phối hợp của Cục An ninh kinh tế, Cục Cảnh sát kinh tế thuộc Bộ Công an.
Nội dung kiểm tra không chỉ tập trung vào việc thực hiện quy trình tổ chức thu phí, quản lý doanh thu mà còn rà soát các phương tiện được miễn thu theo quy định và các đối tượng giảm giá theo danh sách do địa phương, nhà đầu tư và doanh nghiệp dự án cung cấp.
Qua kiểm tra, giám sát, cơ quan chức năng đã phát hiện một số trường hợp miễn, giảm giá không đúng đối tượng, yêu cầu truy thu và ghi tăng doanh thu cho dự án. Đồng thời, Cục Đường bộ Việt Nam yêu cầu các nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án chấn chỉnh hoạt động thu phí, dừng ngay việc cho phương tiện không thuộc diện ưu tiên được miễn, giảm giá qua trạm trái quy định.

Cùng với đó, các đơn vị phải thực hiện nghiêm quy trình thu phí, ghi nhận liên tục thông tin trên phần mềm hệ thống, sao lưu dữ liệu tại trạm; phối hợp với chính quyền địa phương quản lý hành lang an toàn đường bộ, tổ chức phân luồng, hạn chế ùn tắc và bảo đảm an ninh, trật tự tại khu vực trạm thu phí.
Để nâng cao hiệu quả quản lý, Cục Đường bộ Việt Nam cũng chỉ đạo các Khu Quản lý đường bộ thực hiện kiểm tra định kỳ, đột xuất đối với các phương tiện thuộc diện giảm giá vùng lân cận. Việc kiểm tra căn cứ vào danh sách đã được địa phương và nhà đầu tư xác định, qua đó tăng cường trách nhiệm trong quản lý đối tượng thụ hưởng chính sách.
Đặc biệt, Cục Đường bộ Việt Nam được Bộ ủy quyền đình chỉ, tạm dừng thu phí đối với các nhà đầu tư vi phạm quy định về quản lý, bảo trì công trình đường bộ theo hợp đồng và pháp luật. Biện pháp này từng được áp dụng tại dự án hầm Đèo Ngang và dự án Quốc lộ 1 đoạn Phan Thiết - Đồng Nai nhằm yêu cầu khắc phục vi phạm.
Bên cạnh các biện pháp kiểm tra, xử lý, Cục Đường bộ Việt Nam tiếp tục phối hợp triển khai hệ thống thu phí tự động không dừng (ETC), thí điểm các giải pháp tích hợp công nghệ nhằm hiện đại hóa hoạt động thu phí, minh bạch doanh thu và giảm ùn tắc giao thông.
Công tác công khai thông tin về tình hình khai thác, quản lý, bảo trì, kế hoạch kiểm tra, giám sát, quyết toán và doanh thu các dự án BOT cũng được chú trọng, góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý và các doanh nghiệp dự án.
Có thể thấy, việc thực hiện chính sách miễn, giảm giá dịch vụ sử dụng đường bộ không đơn thuần là giải pháp hỗ trợ người dân sinh sống gần trạm BOT, mà còn đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động thu phí. Trong đó, xác định đúng đối tượng thụ hưởng, kiểm soát chặt chẽ nguồn thu và xử lý kịp thời các vi phạm là những yếu tố quan trọng để bảo đảm tính công bằng, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đường bộ.