Thu hút FDI: Từ lựa chọn dòng vốn đến tạo sức lan tỏa Bài cuối: Đưa doanh nghiệp Việt vào chuỗi cung ứng
Để dòng vốn FDI tạo sức lan tỏa sâu rộng, cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Bên cạnh cơ chế khuyến khích thực chất, nâng cao năng lực và tạo dựng niềm tin với đối tác là điều kiện để doanh nghiệp nội địa nắm bắt cơ hội liên kết.
Rào cản liên kết từ cả hai phía
Một trong những mục tiêu chiến lược được Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặt ra là nâng tỷ lệ nội địa hóa bình quân trong các ngành công nghiệp chủ lực lên 45 - 50%; phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, trong đó có 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp I. Hiện thực hóa các mục tiêu này đòi hỏi những giải pháp đột phá, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp, nhất là khi những điểm nghẽn trong liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và khu vực FDI vẫn chưa được tháo gỡ hiệu quả.
Theo Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính Bùi Thu Thủy, thực tiễn triển khai dự án kết nối doanh nghiệp Nhật Bản và Việt Nam do JICA hỗ trợ cho thấy những khó khăn trong việc thúc đẩy liên kết. Dù rất nỗ lực nhưng sau 3 năm dự án mới kết nối thành công khoảng 12 hợp đồng. Nguyên nhân xuất phát từ cả hai phía. Doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào Việt Nam thường mang theo hệ sinh thái nhà cung cấp truyền thống. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa vẫn còn khoảng cách khá xa so với yêu cầu của các tập đoàn đa quốc gia về năng lực tài chính, công nghệ, hệ thống quản trị, tính ổn định của sản lượng và tiến độ giao hàng.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) Trương Thị Chí Bình cũng nhận định, doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế cả về số lượng và năng lực cung ứng. Trong khi đó, các doanh nghiệp FDI đã có chuỗi cung ứng ổn định thường ít có động lực thay đổi nhà cung cấp hiện hữu, trừ khi doanh nghiệp trong nước chứng minh được năng lực vượt trội về chất lượng, hiệu quả hoặc giá thành cạnh tranh hơn.
Theo bà Bình, cơ hội tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước còn phụ thuộc vào mục tiêu đầu tư và đặc thù từng ngành. Chẳng hạn, ngành công nghiệp xe máy Nhật Bản tại Việt Nam đã góp phần hình thành và phát triển hệ thống doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Với các dự án phục vụ thị trường nội địa, doanh nghiệp FDI có động lực tăng tỷ lệ nội địa hóa để tiết giảm chi phí, nhất là đối với linh kiện cồng kềnh, đồng thời bảo đảm cung ứng kịp thời theo mô hình Just-in-time (đúng thời điểm). Ngược lại, các dự án sản xuất phục vụ xuất khẩu, như điện thoại di động, thường có chuỗi cung ứng được thiết lập từ trước. Nhiều linh kiện giá trị cao được nhập khẩu để lắp ráp, sau đó xuất khẩu thành phẩm, khiến dư địa tham gia của doanh nghiệp Việt Nam hạn chế hơn.
Khó vào chuỗi cung ứng nếu không có niềm tin
Theo bà Bùi Thu Thủy, thời gian gần đây, các doanh nghiệp FDI đã cởi mở hơn trong việc hợp tác với Chính phủ Việt Nam xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp trong nước phát triển. Để cụ thể hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW và Nghị quyết số 280/NQ-CP về kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, Bộ Tài chính đang nghiên cứu, đề xuất các chính sách khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, dự kiến đưa vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư và các nghị định liên quan. Định hướng là chuyển từ ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ dựa trên chi phí thực tế và kết quả thực hiện cam kết của doanh nghiệp FDI, như chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng Việt Nam và đưa doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng.
Tuy nhiên, chính sách khuyến khích doanh nghiệp FDI phát triển nhà cung ứng chỉ có thể phát huy tác dụng khi doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực tiếp nhận cơ hội. Bà Thủy lưu ý doanh nghiệp trong nước cần nâng cao năng lực, chuẩn bị tốt các điều kiện để tham gia chuỗi cung ứng khi có cơ hội.
Theo bà Trương Thị Chí Bình, chi phí đất đai và vốn đang là những rào cản lớn với doanh nghiệp sản xuất, chế tạo trong nước. Giá đất công nghiệp tại các khu vực quanh Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng có thể lên tới 170 USD/m²; ngay cả tại Ninh Bình, mức giá cũng khoảng 90 USD/m².
Bên cạnh đó, lãi vay dài hạn khoảng 12% với kỳ hạn 7 - 10 năm tạo thêm áp lực cho doanh nghiệp cần đầu tư nhà xưởng, máy móc và công nghệ. Trong khi đó, tại Trung Quốc, Malaysia, chi phí mặt bằng thấp hơn, thậm chí có thể được miễn phí đối với những dự án có quy mô lớn. Do vậy, chính sách hỗ trợ cần tính đến bài toán mặt bằng và vốn để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, phát triển sản xuất.
Tổng Giám đốc SGS Việt Nam Jackson Woo bổ sung, giá cả không phải yếu tố quyết định đầu tiên để doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng. Ngay cả khi đưa ra mức giá cạnh tranh, doanh nghiệp vẫn không đủ điều kiện nếu chưa đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu cơ bản của khách hàng. Theo ông Jackson Woo, nếu không xây dựng được niềm tin với các khách hàng toàn cầu, doanh nghiệp sẽ khó có cơ hội trở thành nhà cung ứng của họ.
Muốn xây dựng niềm tin, doanh nghiệp cần bảo đảm tính minh bạch và chứng minh khả năng tuân thủ thông qua chứng nhận, thử nghiệm sản phẩm, ông Jackson Woo nói. Doanh nghiệp cũng cần sẵn sàng chia sẻ thông tin, dữ liệu với khách hàng. Nếu không bảo đảm tính minh bạch của chuỗi cung ứng, doanh nghiệp có nguy cơ bị loại khỏi quá trình lựa chọn nhà cung ứng.
Tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW và Nghị quyết số 280/NQ-CP là không chỉ gia tăng số lượng doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của khu vực FDI, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để doanh nghiệp duy trì đơn hàng, nâng cao năng lực sản xuất và từng bước tham gia những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn. Điều này đòi hỏi chính sách phải tạo động lực thực chất để doanh nghiệp FDI phát triển mạng lưới nhà cung ứng nội địa, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn đa quốc gia. Chỉ khi hình thành được mối liên kết bền vững và cùng có lợi, dòng vốn FDI mới thực sự tạo sức lan tỏa, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước và gia tăng giá trị giữ lại trong nền kinh tế.