Hội đồng nhân dân

Để đất, rừng thực sự trở thành sinh kế

Hải Phong • 28/09/2026 09:12

Từ miền Tây Nghệ An, giám sát của Ban Dân tộc HĐND tỉnh cho thấy, phía sau kết quả giao đất, giao rừng vẫn còn những khoảng trống về quỹ đất, hồ sơ địa chính và hiệu quả mô hình sinh kế... Từ thực tế ghi nhận được, nhiều kiến nghị đã được đưa ra nhằm hướng tới mục tiêu để đất, rừng phải thực sự trở thành tư liệu sản xuất, tạo thu nhập và gắn quyền lợi của người dân với trách nhiệm bảo vệ rừng.

Từ hồ sơ ra thực địa

Mỹ Lý, Yên Hòa, Châu Khê, Tam Hợp và Nghĩa Lâm là những địa phương miền núi của tỉnh Nghệ An có diện tích đất lâm nghiệp lớn, đời sống của nhiều hộ đồng bào DTTS gắn chặt với rừng. Vì vậy, trong chuyên đề giám sát việc quản lý, sử dụng đất đai và thực hiện chính sách giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng gắn với phát triển sinh kế giai đoạn 2021 - 2025, Ban Dân tộc HĐND tỉnh không chỉ đối chiếu hồ sơ, số liệu mà còn khảo sát tình hình quản lý sau giao và các mô hình hỗ trợ.

img_2461-5bc6c597e6e5f94baf7ddb05d688f701.jpeg
Ban Dân tộc HĐND tỉnh Nghệ An giám sát việc quản lý, sử dụng đất đai, giao đất, giao rừng tại xã Tam Hợp. Ảnh: Hồng Sáu.

Những số liệu ghi nhận được từ cơ sở cho thấy nhiều chuyển biến tích cực. Tại xã Mỹ Lý - nơi đồng bào DTTS chiếm hơn 97,85% dân số, địa phương đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 82/82 hộ có nhu cầu; giao 1.632,188ha đất rừng sản xuất cho 82 hộ và 6 cộng đồng bản. Giai đoạn 2021 - 2025, diện tích khoán bảo vệ rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng lũy kế hơn 49 nghìn héc-ta, với hơn 21 tỷ đồng được giải ngân, chi trả.

Ở Châu Khê, hơn 8.260ha đất có rừng đã được địa phương giao cho 1.342 hộ và 13 cộng đồng bản. Các mô hình chăn nuôi hỗ trợ 499 hộ đồng bào DTTS. Theo báo cáo, thu nhập bình quân của các hộ tham gia tăng khoảng 24,87 triệu đồng/hộ/năm. Tại Tam Hợp, 8 cộng đồng được giao 526,34ha đất, rừng; vùng nguyên liệu keo cùng 5 cơ sở chế biến và 3 điểm thu mua đã góp phần cải thiện đời sống người dân.

Đi sâu vào từng địa bàn, vấn đề nổi lên là quỹ đất chưa đáp ứng nhu cầu. Mỹ Lý có 115 hộ DTTS được xác định thiếu đất ở, còn nhu cầu đất sản xuất phải tiếp tục rà soát. Châu Khê đã lập danh sách 232 hộ thiếu đất sản xuất nhưng chưa xác định cụ thể diện tích cần bố trí. Tại Tam Hợp, nhu cầu đất sản xuất nông - lâm nghiệp của đồng bào Thái, Thổ lớn, trong khi địa phương không có quỹ đất để triển khai Nghị quyết số 32/2024/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về chính sách đất đai đối với đồng bào DTTS.

Từ đó, Đoàn giám sát tập trung vào những diện tích có khả năng bổ sung quỹ đất cho địa phương. Tại xã Mỹ Lý, khoảng 4.493,14ha được xác định để thực hiện thủ tục bàn giao từ Ban Quản lý rừng phòng hộ Kỳ Sơn. Làm việc với xã Tam Hợp, Đoàn đề nghị rà soát 1.610,29ha đất lâm nghiệp do Lâm trường Đồng Hợp quản lý, xác định diện tích chồng lấn hoặc sử dụng kém hiệu quả để tham mưu UBND tỉnh xem xét thu hồi, bàn giao về địa phương, phục vụ nhu cầu sản xuất của người dân.

img_2468-1bbe9b6ee7a2fa6aec642e5b83180e05.jpeg
Đoàn giám sát thực tế công tác quản lý, sử dụng đất đai tại cơ sở. Ảnh: Ngọc Thương

Một vấn đề khác là hồ sơ địa chính qua nhiều thời kỳ còn thiếu đồng bộ. Xã Yên Hòa còn 471 thửa chưa hoàn thành thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận; xã Châu Khê còn 296 hồ sơ cấp Giấy chứng nhận tồn đọng. Tại xã Nghĩa Lâm, việc tổng hợp, số hóa và quản lý dữ liệu về đất lâm nghiệp cũng như thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng còn chậm.

Sinh kế là thước đo cuối

Ghi nhận từ các buổi làm việc cũng cho thấy, hiệu quả từ các mô hình hỗ trợ là vấn đề cần hết sức quan tâm. Đơn cử như xã Yên Hòa dù đã triển khai 17 mô hình với 779 hộ tham gia, song 4 mô hình trồng Bo Bo, Sa nhân tím, Chuối lấy lá và Ba kích tím được báo cáo không thành công hoặc hiệu quả thấp. Tại Tam Hợp, dù đã hình thành vùng nguyên liệu keo, địa phương chưa có mô hình lâm nghiệp bền vững như trồng cây dược liệu, rừng gỗ lớn hay phát triển kinh tế dưới tán rừng... Ở Nghĩa Lâm, hơn 139 triệu đồng từ nguồn ERPA được chi trả cho 48 chủ rừng và 3 cộng đồng dân cư; 23 hộ được hỗ trợ 46 con bê cái lai Sind để đa dạng hóa sinh kế.

Thực tiễn giữa các địa bàn cho thấy, các mô hình cần được đánh giá bằng thu nhập thực tế, khả năng duy trì sau hỗ trợ và thị trường tiêu thụ. Những mô hình không phù hợp với điều kiện tự nhiên, kỹ thuật hoặc thiếu đầu ra cần được điều chỉnh; nguồn lực nên ưu tiên những hướng sản xuất gắn với lợi thế bản địa, có khả năng tạo thu nhập ổn định.

img_2467-757ac759b23b264b79780997a96d2d12.jpeg
Đoàn giám sát Ban Dân tộc HĐND tỉnh Nghệ An khảo sát thực tế tại các địa phương miền núi. Ảnh: Ngọc Thương

Các địa phương cũng kiến nghị nâng mức hỗ trợ khoán bảo vệ rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng; bố trí kinh phí cho phòng cháy, chữa cháy rừng, đo đạc, lập bản đồ địa chính; quan tâm đội ngũ cán bộ lâm nghiệp... Đồng thời, có cơ chế thu hút doanh nghiệp liên kết, bao tiêu sản phẩm nông - lâm nghiệp.

Trưởng ban Dân tộc HĐND tỉnh Nghệ An Lô Thị Kim Ngân nhấn mạnh: mục tiêu cốt lõi của giao đất, giao rừng không chỉ dừng ở bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, mà quan trọng hơn là giải được bài toán sinh kế bền vững, giúp đồng bào DTTS "sống được và vươn lên làm giàu từ rừng".

Để đất, rừng thực sự trở thành nguồn lực phát triển, những vướng mắc về quỹ đất, hồ sơ, ranh giới cần được tháo gỡ đồng thời với nâng cao chất lượng các mô hình hỗ trợ... Khi người dân có thu nhập ổn định từ đất, từ rừng, bảo vệ tài nguyên mới có thể gắn chặt với giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống đồng bào DTTS và giữ vững địa bàn miền núi, biên giới.

Hải Phong