Lập pháp

Góp phần vào khung pháp lý phát triển và quản trị AI của Việt Nam

Nguyễn Ngọc Trân - Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại • 12/10/2026 10:48

Từ công cụ thực hiện mệnh lệnh đến hệ thống có khả năng tự hành động, ra quyết định, trí tuệ nhân tạo (AI) đang phát triển nhanh, mang lại cơ hội lớn nhưng cũng đặt ra những rủi ro chưa có tiền lệ. Trước nguy cơ AI vượt khỏi tầm kiểm soát của con người, việc hoàn thiện khung pháp lý quản trị và phát triển AI của Việt Nam trở nên cấp thiết, nhằm vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm an toàn và chủ quyền số quốc gia.

Trong các công nghệ mới mà loài người đã trải nghiệm cho đến nay, trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển nhanh, tác động sâu rộng đến kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực, chi phối hầu như mọi mặt cuộc sống của con người, đồng thời đặt ra những thách thức chưa có tiền lệ.

Từ AI công cụ theo lệnh, AI đã biết tự tìm ra quy luật từ tổng hợp dữ liệu và dự đoán (AI công cụ biết dự đoán), rồi hiểu thông qua tổng hợp để sáng tạo (AI tạo sinh, Generative AI) đến hiện nay biết tự hành động, ra quyết định sau khi nhận yêu cầu (AI tác nhân, Agentic AI). Trong mối quan hệ với con người AI đã đi từ chỗ là công cụ vâng lệnh đến trợ lý thông minh rồi cộng sự chủ động.

Sự phát triển này chứa đựng bên trong nó lời cảnh báo rằng trong những điều kiện nào đó, AI có khả năng hành động vượt tầm kiểm soát của người đã tạo ra chúng mà không báo cáo với hậu quả không tiên liệu được. Cảnh báo này đã trở thành hiện thực vào giữa năm 2026 qua hai sự cố AI “xổng chuồng”.

Trong bối cảnh đó, kiểm lại khung pháp lý quản trị AI của Việt Nam tính đến đầu tháng 9/2026. Tiếp đó đề cập đến những điều chỉnh mô hình quản trị AI của EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Nhật Bản và Ấn Độ sau hai sự cố của AI thử nghiệm “xổng chuồng” sandbox. Cuối cùng, bài viết đề xuất với Quốc hội và Chính phủ những văn bản pháp quy cần ban hành để khung pháp lý quản trị AI của Việt Nam tiếp tục được hoàn thiện và có khả năng tự che chắn trong các năm tới.

Khung pháp lý quản trị AI của Việt Nam

So với các nước, Việt Nam đã sớm bắt tay xây dựng mô hình cho riêng mình từ năm 2023. Tính đến tháng 8/2026, Việt Nam đã ban hành 17 văn bản pháp quy được tập hợp thành ba phần: Nền tảng và cốt lõi; Chuyên về AI; và Liên ngành tác động lên/chịu tác động từ AI.

Các văn bản nền tảng cốt lõi gồm 6 luật:

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 là luật đầu tiên điều chỉnh toàn diện hoạt động AI. Phân loại hệ thống AI theo 3 mức rủi ro; quy định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) tại Điều 21; thành lập Quỹ Phát triển AI quốc gia.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo, với 429/434 tổng số ĐBQH có mặt tán thành. Ảnh- Quang Khánh
Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo. Ảnh: Quang Khánh

Luật Dữ liệu năm 2024 quy định về dữ liệu số; xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý, sử dụng dữ liệu số; Trung tâm dữ liệu quốc gia, là nền tảng cho mọi hoạt động AI liên quan đến dữ liệu.

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân trong xử lý dữ liệu lớn, AI, blockchain; yêu cầu xử lý đúng mục đích, tích hợp biện pháp bảo mật, phân loại rủi ro.

Luật An ninh mạng năm 2025 nghiêm cấm sử dụng AI để giả mạo video, hình ảnh, giọng nói; cấm tạo lập, phát tán thông tin vi phạm pháp luật. Quy định chế tài xử phạt nghiêm khắc với hành vi lợi dụng AI/Deepfake.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật An ninh mạng với 434:443 ĐBQH có mặt tán thành. Ảnh- Phạm Thắng
Quốc hội biểu quyết thông qua Luật An ninh mạng. Ảnh: Phạm Thắng

Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; chính sách phát triển; thúc đẩy ứng dụng công nghệ, bao gồm AI, Khung pháp lý nền tảng cho hoạt động R&D (nghiên cứu và phát triển) AI.

Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 lần đầu tiên luật hóa cơ chế sandbox cho các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số mới, cho phép thử nghiệm trong không gian và thời gian hạn chế.

Chuyên về AI có 7 văn bản, gồm:

Nghị định 142/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật AI, hướng dẫn phân loại 3 mức rủi ro; yêu cầu gắn nhãn nội dung do AI tạo ra; thiết lập Cổng thông tin điện tử một cửa về AI; quy định cơ chế sandbox.

Quyết định 33/2026/QĐ-TTg ban hành Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao trong 6 lĩnh vực: giáo dục, dân tộc và tôn giáo, y tế, ngân hàng, tố tụng, giao thông vận tải.

Thông tư 05/2026/TT-BKHCN ban hành Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia, định hướng nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI theo hướng an toàn, có trách nhiệm.

Quyết định 21/2026/QĐ-TTg ban hành Danh mục công nghệ chiến lược, trong đó AI là nhóm trung tâm cùng dữ liệu lớn, bản sao số, điện toán đám mây, IoT, blockchain. (thay thế Quyết định 1131/QĐ-TTg).

Quyết định 1671/QĐ-TTg là văn bản chiến lược mới nhất tính đến cuối tháng 8/2026, phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Mục tiêu kinh tế AI đạt 6% GDP vào năm 2030.

Nghị định 94/2025/NĐ-CP quy định cơ chế sandbox trong lĩnh vực ngân hàng, tập trung vào 3 giải pháp: Chấm điểm tín dụng (dùng AI/dữ liệu lớn), Open API, và Cho vay ngang hàng (P2P Lending).

Quyết định 1829/QĐ-BGDĐT ban hành quy định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với ứng dụng công nghệ thực - ảo trong giáo dục.

4 văn bản liên ngành, tác động lên/chịu tác động từ AI gồm:

Luật Xuất bản (sửa đổi 2026) nghiêm cấm lợi dụng AI để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản. Quy định trách nhiệm khi ứng dụng AI; tăng cường bảo vệ quyền tác giả. Khẳng định AI không phải là chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý thay con người. Cấm sử dụng AI 100% để tạo ra xuất bản phẩm.

Nghị định 165/2025/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Dữ liệu, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dữ liệu; tiêu chí xác định dữ liệu quan trọng; quản lý rủi ro trong xử lý dữ liệu.

Nghị định 356/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân; danh mục dữ liệu cá nhân cơ bản và nhạy cảm.

Luật Giao dịch điện tử năm 2023 điều chỉnh hợp đồng thông minh, giao dịch điện tử tự động. Có liên quan đến AI khi được sử dụng trong giao dịch tự động. Chưa có quy định trực tiếp về AI, nhưng là khung pháp lý cho các giao dịch do AI thực hiện.

Nhìn tổng thể, hệ thống các văn bản pháp quy về AI đã ban hành thể hiện rõ ba định hướng lớn.

Về triết lý và mục tiêu: Chủ động, tích cực phát triển AI gắn với giữ vững độc lập, chủ quyền số quốc gia; đồng thời góp phần đa cực hóa quản trị AI trên thế giới vì sự tồn vong và hạnh phúc của nhân loại.

Về trọng tâm chiến lược: Bảo đảm cân bằng giữa quản lý rủi ro và thúc đẩy mạnh mẽ “tự chủ AI”, giữ vững “chủ quyền AI quốc gia”.

Về nguyên tắc lấy con người làm trung tâm: Đặt sự an toàn, quyền riêng tư và quyền con người lên hàng đầu, đồng thời bảo đảm con người luôn có khả năng can thiệp hoặc kiểm soát hệ thống AI.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Dữ liệu. Ảnh- Hồ Long
Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Dữ liệu. Ảnh: Hồ Long

Biến động về quản trị AI

Từ tháng 7/2026, quản trị AI trên thế giới ghi nhận những biến động dồn dập, đáng chú ý là việc các quốc gia điều chỉnh mô hình quản trị sau hai sự cố AI “xổng chuồng” và Thỏa thuận Nhà Trắng về Siêu trí tuệ.

Hầu như ra đời cùng lúc với máy tính điện tử AI vào năm 1956, AI khi đó chỉ biết thực hiện các lệnh của con người. Từ công cụ chỉ biết phục tùng lệnh, AI thông minh dần lên và trở thành AI tạo sinh (Generative AI) (2014-2018- nay), trợ lý cho con người. Không lâu sau đó, (2021–2023-nay) AI trở thành AI tác nhân (Agentic AI), người cộng sự tự chủ hành động của con người, nhận yêu cầu và tự tìm cách hoàn thành.

Tác động tích cực cùng với tác động tiêu cực, các thách thức đối với xã hội loài người nhanh chóng được các chuyên gia, nhà khoa học nhận thấy và phản ánh tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới Davos tháng 1/2026. Băn khoăn và lo ngại nằm ở chỗ AI tác nhân bây giờ là đối tác tự chủ hành động mà không cần báo cáo với người sử dụng, có khả năng khai thác các khe hở để vượt qua các tường rào sandbox được lập ra để kiểm soát chúng.

Giữa năm 2026, liên tiếp hai vụ AI thử nghiệm “xổng chuồng” đã xảy ra tại OpenAI và tại Anthropic. Những sự cố nghiêm trọng này đã khiến nhiều nước mạnh về AI nhìn lại mô hình quản trị AI của mình và đã có những đổi thay từ quản trị tiền kiểm tĩnh sang phòng vệ động, cô lập phần cứng và giám sát hành vi tác vụ.

shutterstock_1342821122.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: Shutterstock

Liên minh Châu Âu (EU): EU mở điều tra việc OpenAI không báo cáo sự cố theo Điều 55 AI Act, đồng thời thảo luận cơ chế "kill switch" xuyên biên giới. Cơ quan Quản lý AI của EU (EU AI Office) đã kích hoạt ngay điều khoản khẩn cấp thuộc gói Digital Omnibus (tháng 7/2026). EU bắt buộc kiểm toán cách ly vật lý (air-gapped isolation) đối với mọi môi trường sandbox thử nghiệm Mô hình nền tảng (GPAI). Nếu một mô hình có hành vi “tự trị vượt rào”, nhà phát triển sẽ đối mặt mức phạt tối cao tăng quy định lên tới 7% doanh thu toàn cầu dưới khung giám sát tập trung trực tiếp của EU AI Office.

Tại Hoa Kỳ đã chứng kiến tranh luận gay gắt giữa tự quản và giám sát độc lập. Quốc hội Hoa Kỳ gửi thư yêu cầu OpenAI và Anthropic giải trình, kêu gọi điều trần chính thức, xem sự cố là mối đe dọa an ninh quốc gia. Quốc hội thúc đẩy ngay dự luật khẩn cấp thiết lập Ủy ban Điều tra Sự cố An ninh thuật toán độc lập (tháng 9/2026). Sắc lệnh Hành pháp được bổ sung quy chuẩn của Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia (NIST), buộc các phòng thí nghiệm AI (OpenAI, Google, Anthropic) phải chia sẻ nhật ký (logs) thời gian thực về mọi hành vi “ngoài tầm kiểm soát” (nearmisses) của các AI tác nhân (Agentic AI) cho Liên bang.

Trong khi đó, Trung Quốc xác định "mất kiểm soát vận hành" là rủi ro an ninh, yêu cầu nhà phát triển cải thiện phát hiện và can thiệp hành vi bất thường. Trung Quốc soạn thảo tiêu chuẩn quốc gia bắt buộc đầu tiên về an toàn tác nhân AI. Cơ quan Quản lý Không gian mạng Trung Quốc (CAC) ban hành lệnh thắt chặt Khung Quản trị Thuật toán (hiệu lực tháng 8/2026). Trung Quốc áp đặt cơ chế ngắt mạch vật lý (kill-switch) bắt buộc ở cấp độ hạ tầng máy chủ trung tâm dữ liệu. Mọi thuật toán thử nghiệm có khả năng tự trị cao buộc phải được huấn luyện trên mạng nội bộ ngắt kết nối hoàn toàn với internet toàn cầu.

Liên Bang Nga tiếp tục phát triển AI theo hướng chủ quyền công nghệ và kiểm soát nhà nước. Nga sửa đổi Luật phát triển AI (bổ sung tháng 9/2026, áp dụng nghiêm ngặt từ 1/1/2027). Nga chuyển hướng mục tiêu từ tự do hóa dữ liệu sang “Chủ quyền an ninh mã nguồn”. Nga yêu cầu các tập đoàn công nghệ quốc gia phải thiết lập màng lọc tường lửa quân sự bao quanh các mô hình ngôn ngữ lớn, cấm hoàn toàn thuật toán tự sinh mã lệnh (code) chưa qua kiểm duyệt của con người. Nga cũng thúc đẩy phát triển mô hình nội địa, giảm phụ thuộc công nghệ phương Tây, và xem xét cơ chế giám sát chặt chẽ hơn đối với các hệ thống AI tự chủ trong hạ tầng trọng yếu.

Nhật Bản chuyển từ "luật mềm" sang "luật cứng", sửa đổi Chiến lược AI quốc gia sớm 6 tháng (14/7/2026), tập trung chủ quyền AI, và kích hoạt hệ thống phòng thủ số “Project Yata-Shield” che chắn cho 15 hạ tầng trọng yếu. Viện An toàn AI Nhật Bản (AISI) chuyển từ vai trò đánh giá tự nguyện sang bắt buộc tiền kiểm toán kỹ thuật đối với mọi mô hình AI có khả năng tự trị cao (Agentic AI) trước khi cho phép doanh nghiệp chạy thử nghiệm. Nhật Bản buộc các tập đoàn công nghệ phải minh bạch hóa hoàn toàn dữ liệu huấn luyện và truy xuất nhật ký hành vi thuật toán thời gian thực, chấm dứt kỷ nguyên “buông lỏng quản lý” để đổi lấy tốc độ phát triển công nghệ.

Ấn Độ chuyển từ cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc sang biện pháp cụ thể. Chính phủ thành lập AI Safety Institute, cấm ngân hàng và công ty bảo hiểm thử nghiệm hoặc triển khai mô hình Mythos của Anthropic cho đến khi tính an toàn được xác lập. Bộ Công nghệ thông tin Ấn Độ ban hành Sửa đổi khẩn cấp quy chế Công nghệ Thông tin (tháng 8/2026). Ấn Độ thiết lập cơ chế “Trách nhiệm giải trình kép”: buộc cả nhà phát triển phần mềm AI và đơn vị cung cấp hạ tầng đám mây (Cloud) lưu trữ sandbox phải chịu trách nhiệm hình sự liên đới nếu để xảy ra sự cố AI xổng chuồng gây tổn hại đến hạ tầng số quốc gia.

Từ những diễn biến nêu trên, có thể tổng hợp sáu phản ứng chính sách mà Việt Nam cần tham khảo, gồm: không thể chỉ dựa vào “luật mềm” (Soft Law); kiểm tra hạ tầng sandbox, thay vì chỉ kiểm tra mô hình; xây dựng cơ chế phản ứng nhanh và phòng thủ chủ động; bảo đảm chủ quyền công nghệ và đa dạng hóa nguồn cung; yêu cầu gắn nhãn và truy xuất nguồn gốc nội dung AI; đồng thời cập nhật chiến lược AI một cách linh hoạt, nhanh chóng.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Khoa học, Công nghệ (sửa đổi) và đổi mới sáng tạo với 435:438 ĐBQH có mặt tham gia biểu quyết tán thành. Ảnh- Phạm Thắng
Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Khoa học, Công nghệ (sửa đổi) và đổi mới sáng tạo. Ảnh: Phạm Thắng

Đặc biệt, ngày 29/9 vừa qua, Tổng thống Donald Trump và sáu giám đốc điều hành công nghệ hàng đầu (Sundar Pichai CEO Google, Dario Amodei CEO Anthropic, Mark Zukerberg CEO Meta, Greg Brockman Chủ tịch OpenAI, Elon Musk CEO XAI, Jensen Huang CEO Nvidia) đã ký kết Thỏa thuận Nhà Trắng về Siêu trí tuệ (White House Accord on Super Intelligence - WHAonSI). Đây là thỏa thuận tự nguyện, không có hiệu lực pháp lý ràng buộc mà chỉ mang tính "ràng buộc về mặt đạo đức".

Thỏa thuận này ra đời trong bối cảnh lo ngại của công chúng về an toàn AI gia tăng, cùng với áp lực chính trị đòi hỏi phải có hành động. Ngoài mục đích chung là trấn an dư luận rằng các sự cố AI vẫn nằm trong vòng kiểm soát, Tổng thống Trump còn muốn duy trì lợi thế cạnh tranh của Mỹ, củng cố vị thế bá chủ của Hoa Kỳ trong lĩnh vực, ủng hộ quản trị tự điều chỉnh, giảm thiểu quản lý hành chính.

Các doanh nhân, để thể hiện trước dư luận thái độ trách nhiệm của mình, họ cam kết thiết lập 4 lớp kiểm soát nội bộ và kiểm toán độc lập và đổi lại họ tránh được các đạo luật kiểm soát hà khắc và còn nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ chính quyền Trump trong việc nhanh chóng mở rộng các trung tâm dữ liệu và cơ sở hạ tầng năng lượng quy mô lớn.

Cùng ngày ký WHAonSI, Tổng thống Trump ký Sắc lệnh hành pháp yêu cầu tất cả các bộ và cơ quan hành pháp Hoa Kỳ sử dụng thuật ngữ “Super Intelligence” (SI - Siêu trí tuệ) thay cho “Artificial Intelligence” (AI - Trí tuệ nhân tạo), với lập luận rằng công nghệ đã vượt qua định nghĩa cũ. Việc sử dụng thuật ngữ “Siêu trí tuệ” được xem là cách khẳng định nước Hoa Kỳ đang bước vào một kỷ nguyên công nghệ mang tính cách mạng, tương tự sự ra đời của Internet. Sự thay đổi này đồng thời nhằm nâng tầm vị thế công nghệ của Hoa Kỳ so với phần còn lại của thế giới, cũng như định hình lại cách nhìn nhận về tiềm năng và sức mạnh của công nghệ.

Góp phần vào khung pháp lý quản trị và phát triển AI của Việt Nam

Trên cơ sở hệ thống văn bản pháp luật đã được ban hành, trước sự phát triển nhanh chóng của AI, đặc biệt là AI tác nhân, cùng những cơ hội và rủi ro đặt ra, Quốc hội và Chính phủ có thể cân nhắc, lựa chọn ban hành thêm một số văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới, nhằm sớm hình thành khung pháp lý thông thoáng, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển AI gắn với bảo đảm an toàn và kiểm soát rủi ro.

Quản lý rủi ro phải bắt đầu từ kiểm soát hạ tầng

Trước hết, ưu tiên ban hành nghị định về quản lý rủi ro hệ thống AI nhằm cụ thể hóa Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025, trong đó xác định tiêu chí phân định bốn cấp độ rủi ro, quy trình gắn nhãn an toàn, kiểm tra năng lực tự trị, tự sinh mã lệnh và khả năng phòng ngừa mã độc của thuật toán. Mục tiêu là ngăn chặn các hệ thống AI rủi ro cao tự vận hành sai lệch ngoài kịch bản. Thời điểm ban hành khoảng cuối năm 2026 hoặc đầu năm 2027.

VBPQ đề xuất Nhóm 1
Đề xuất 6 văn bản cần ban hành nhằm quản lý rủi ro, bảo đảm an toàn hạ tầng và kiểm soát hoạt động của các hệ thống AI

Cùng với đó, một nghị định về an toàn hạ tầng và cơ chế kiểm soát, cô lập (containment) đối với hệ thống AI tự chủ cũng cần được sớm xây dựng. Trọng tâm là quy định tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc cho sandbox, bao gồm cách ly vật lý (air-gap), kiểm soát kết nối ra bên ngoài (egress) ở tầng hệ thống phân giải tên miền (DNS) thay vì chỉ HTTP/HTTPS, không sử dụng tên thật trong môi trường thử nghiệm; thiết lập cơ chế ngắt khẩn cấp tự động (kill switch), giám sát thời gian thực (runtime) 24/7 và khả năng can thiệp tự động trong vòng dưới 15 phút. Nghị định này nên được ưu tiên ban hành trước khi triển khai các sandbox AI quy mô lớn tại Việt Nam.

Đối với AI tác nhân (Agentic AI), đề xuất xây dựng thông tư riêng về đánh giá và phân loại rủi ro, bổ sung các tiêu chí về mức độ tự quyết, khả năng thích ứng sau triển khai, phạm vi hành động và tương tác với hệ thống bên ngoài qua các giao thức mạng như DNS (hệ thống phân giải tên miền), ICMP (giao thức tin nhắn được kiểm soát trên Internet). Việc đánh giá phải xem xét cả khả năng kiểm soát hành vi và mức độ tuân thủ của AI trong quá trình vận hành, thay vì chỉ dựa vào năng lực kỹ thuật ban đầu. Bộ Khoa học và Công nghệ có thể xem xét ban hành thông tư trong quý IV/2026, bảo đảm đồng bộ với Nghị định 142/2026/NĐ-CP.

Một yêu cầu quan trọng khác là thiết lập cơ chế báo cáo và xử lý sự cố AI bắt buộc, tương tự báo cáo sự cố an ninh mạng. Quy định phải xác định thời hạn báo cáo trong vòng 24 giờ, cơ quan đầu mối, nội dung báo cáo, chế tài đối với tổ chức vi phạm và cơ chế bảo vệ người báo cáo. Đây là bước chuyển từ những khuyến nghị tự nguyện sang cơ chế thực thi có trách nhiệm pháp lý rõ ràng. Nghị định nên được ban hành trong quý I/2027, sau khi hoàn thiện quy định phân loại rủi ro.

Đối với hoạt động thử nghiệm, cần ban hành nghị định riêng về sandbox cho AI vào cuối năm 2026, quy định rõ không gian, thời gian, điều kiện miễn trừ trách nhiệm pháp lý và yêu cầu bảo đảm an toàn. Các sandbox phải có cơ chế cách ly vật lý, ngắt khẩn cấp, cô lập tự động, thẩm định an toàn và hệ thống tường lửa chủ động, tránh để môi trường thử nghiệm trở thành lỗ hổng đe dọa hạ tầng mạng.

Bên cạnh sandbox chung, người viết đề xuất xây dựng cơ chế thử nghiệm chuyên ngành trong y tế và giáo dục, áp dụng cho các ứng dụng như AI chẩn đoán hình ảnh, hỗ trợ điều trị, gia sư thông minh và đánh giá học sinh, ban hành trong quý II/2027. Quy định phải làm rõ phạm vi sử dụng dữ liệu, yêu cầu giám sát y khoa, sư phạm và trách nhiệm giải trình.

Bảo vệ dữ liệu, kiểm soát nội dung AI và hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật

Cùng với quản lý rủi ro vận hành, việc ban hành quy định về chống thông tin giả mạo xuyên biên giới (deepfake), yêu cầu các nền tảng định danh nội dung do AI tạo ra, thiết lập quy trình gỡ bỏ nhanh bằng AI và chịu chế tài khi để AI tác nhân tự tạo các chiến dịch lừa đảo số là rất quan trọng. Chính phủ có thể xem xét ban hành nghị định này vào cuối năm 2026 nhằm tăng cường bảo vệ người dân trước nguy cơ thông tin giả mạo được sản xuất, phát tán tự động trên quy mô lớn.

VBPQ đề xuất Nhóm 2
Đề xuất 5 văn bản cần ban hành nhằm bảo vệ dữ liệu, kiểm soát nội dung AI và hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật

Để tháo gỡ nút thắt dữ liệu phục vụ phát triển AI nội địa, cần thiết lập cơ chế miễn trừ bản quyền đối với dữ liệu huấn luyện thuật toán. Theo đó, quy định rõ những trường hợp được phép trích xuất dữ liệu có bản quyền để huấn luyện AI mà không bị coi là vi phạm, đồng thời nghiêm cấm tự ý quét, sử dụng dữ liệu lậu ngoài phạm vi miễn trừ. Việc mở rộng khả năng tiếp cận dữ liệu phải gắn với nghĩa vụ minh bạch nguồn đầu vào và kiểm soát thuật toán. Nghị định hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ nên được ban hành vào cuối năm 2026, song hành với phát triển hạ tầng dữ liệu lớn.

Đối với dữ liệu huấn luyện AI, đề xuất ban hành danh mục dữ liệu bắt buộc kiểm soát, xác định những loại dữ liệu nhạy cảm, quan trọng không được đưa lên nền tảng AI công cộng; bảo đảm cả tính bảo mật và tính toàn vẹn của dữ liệu. Các hệ thống AI quan trọng phải lưu trữ dữ liệu huấn luyện tại Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ có thể ban hành danh mục này trong quý I/2027 nhằm bảo đảm an ninh dữ liệu và chủ quyền số quốc gia.

Song song với đó, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về AI là một nhiệm vụ trọng tâm, tập trung vào an toàn mã nguồn và yêu cầu bắt buộc truy xuất nhật ký hành vi (logs) theo thời gian thực đối với AI tác nhân. Đây là cơ sở để phát hiện, ngăn chặn những hành vi bất thường, đặc biệt nguy cơ AI tự khai thác lỗ hổng chưa được biết đến (zero-day) nhằm vượt khỏi vùng sandbox. Bộ Khoa học và Công nghệ có thể chủ trì xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn theo lộ trình cuốn chiếu trong giai đoạn cuối năm 2026 - 2027.

Riêng với hệ thống AI rủi ro cao, đề xuất ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể cho sáu lĩnh vực theo Quyết định 33/2026/QĐ-TTg, gồm giáo dục, y tế, ngân hàng, giao thông vận tải, tư pháp, dân tộc và tôn giáo trong quý IV/2027, sau khi có thêm kinh nghiệm từ các sandbox chuyên ngành . Các tiêu chuẩn phải quy định rõ yêu cầu về độ chính xác, khả năng giải thích, cơ chế kiểm soát của con người và điều kiện vận hành an toàn.

Giữ vững chủ quyền AI, xác định rõ trách nhiệm pháp lý

Để bảo đảm chủ quyền số quốc gia, Chính phủ hoặc Thủ tướng nên quy định bắt buộc sử dụng mô hình AI chủ quyền trong các ngành, lĩnh vực trọng yếu trong năm 2027, khi mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) tiếng Việt hoàn thiện. Theo đó, phải xác định rõ khái niệm pháp lý về mô hình AI quốc gia, danh mục lĩnh vực bắt buộc áp dụng và không cho phép tích hợp các tác vụ AI nước ngoài khi chưa có cơ chế cô lập an toàn. Mục tiêu là ngăn ngừa nguy cơ rò rỉ bí mật nhà nước, nhất là từ những mô hình AI nước ngoài có thể tồn tại lỗ hổng vượt qua giới hạn kiểm soát.

VBPQ đề xuất Nhóm 3
Đề xuất 5 văn bản cần ban hành nhằm giữ vững chủ quyền AI, xác định rõ trách nhiệm pháp lý

Cùng với đó, người viết đề xuất thiết lập cơ chế kiểm toán thuật toán và đánh giá sự phù hợp, quy định tiêu chuẩn đối với tổ chức kiểm toán độc lập, quy trình kiểm tra và yêu cầu mô phỏng tấn công thử nghiệm (Red Teaming). Hoạt động kiểm toán phải đánh giá cả khả năng phòng vệ trước những hành vi tự trị ngoài dự kiến, đặc biệt trong các lĩnh vực tác động trực tiếp đến quyền lợi người dân như tín dụng, y tế. Bộ Khoa học và Công nghệ có thể xem xét ban hành thông tư hướng dẫn trong năm 2027, sau khi có nghị định về quản lý rủi ro AI.

Đối với nội dung do AI tạo ra, nên ưu tiên cụ thể hóa quy định gắn nhãn và truy xuất nguồn gốc đối với văn bản, hình ảnh, video, âm thanh; thống nhất tiêu chuẩn về dấu bản quyền kỹ thuật số (watermark), siêu dữ liệu (metadata) và trách nhiệm của các nền tảng trong phát hiện, định danh nội dung. Trên cơ sở Nghị định 142/2026/NĐ-CP, thông tư này có thể được ban hành trong quý II/2027 để bảo đảm thực thi thống nhất.

Đặc biệt, việc phân định rõ trách nhiệm dân sự, hành chính và hình sự giữa nhà phát triển, nhà cung cấp, bên triển khai và người sử dụng AI là yêu cầu cấp thiết; đồng thời quy định cơ chế bồi thường thiệt hại và bảo hiểm trách nhiệm AI. Nguyên tắc là AI chỉ là công cụ, con người và tổ chức liên quan phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng với vai trò của mình, tránh khoảng trống trách nhiệm khi xảy ra sự cố. Chính phủ có thể nghiên cứu, tham vấn và ban hành nghị định về nội dung này trong quý III/2027.

Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về bảo hộ bản quyền đối với sản phẩm do AI tạo ra độc lập và cơ chế phân chia lợi ích giữa tác giả với nhà phát triển. Đây là vấn đề phức tạp, đòi hỏi cân bằng quyền lợi của giới sáng tạo và doanh nghiệp công nghệ, đồng thời tham khảo thông lệ quốc tế. Bộ Khoa học và Công nghệ có thể phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan trong năm 2027.

Bảo đảm quyền quyết định của con người, thúc đẩy AI phát triển có trách nhiệm

Nguyên tắc lấy con người làm trung tâm phải được cụ thể hóa trong các lĩnh vực ứng dụng AI, nhất là những hoạt động tác động trực tiếp đến quyền con người. Trong tố tụng và tư pháp, cần xây dựng quy chế xác định AI chỉ có vai trò tham khảo, quyền quyết định cuối cùng thuộc về con người; đồng thời kiểm soát chặt chẽ chứng cứ số, ngăn chặn thuật toán tự cấu trúc hoặc làm sai lệch hồ sơ án lệ số, hạn chế nguy cơ thông tin sai lệch và hiện tượng “ảo tưởng” (hallucination) ảnh hưởng đến phán quyết. Đề xuất Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp phối hợp xây dựng quy chế trong năm 2027, sau khi hạ tầng dữ liệu ngành tòa án được đồng bộ.

VBPQ đề xuất Nhóm 4
Đề xuất 4 văn bản cần ban hành nhằm bảo đảm quyền quyết định của con người, thúc đẩy AI phát triển có trách nhiệm

Đối với khu vực công, nguyên tắc “con người ra quyết định cuối cùng” phải được áp dụng thống nhất, không cho phép AI tự động từ chối hoặc hạn chế quyền tiếp cận dịch vụ công của người dân. Các hệ thống AI phải được đánh giá rủi ro trước khi triển khai, kiểm toán định kỳ và bảo đảm khả năng giám sát, can thiệp của con người. Kinh nghiệm kiểm soát ứng dụng AI trong cung cấp dịch vụ công tại Hà Nội có thể được nghiên cứu, nhân rộng trên phạm vi toàn quốc. Nghị định về quản trị AI trong khu vực công nên được ban hành vào quý III/2027.

Cùng với bảo vệ quyền con người, trong giai đoạn 2027 - 2028, cần xây dựng khung chính sách bảo vệ người lao động trước tác động của AI, trong đó quy định cơ chế trợ cấp đào tạo lại kỹ năng số cho người mất việc do AI và trách nhiệm của doanh nghiệp khi tái cấu trúc nhân sự. Đây là giải pháp giúp người lao động thích ứng với quá trình tự động hóa, hạn chế tác động tiêu cực đến việc làm và an sinh xã hội.

Tuy nhiên, hoàn thiện khung pháp lý không chỉ nhằm kiểm soát rủi ro mà còn phải tạo động lực phát triển AI an toàn và có trách nhiệm. Theo đó, nên nghiên cứu chính sách ưu đãi thuế, tín dụng cho doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) AI an toàn; cơ chế miễn trừ trách nhiệm đối với tổ chức tuân thủ đầy đủ quy định; đồng thời sử dụng Quỹ Phát triển AI quốc gia để hỗ trợ nghiên cứu về bảo đảm hành vi AI phù hợp với ý định, lợi ích của con người và khả năng kiểm soát, cách ly hệ thống. Chính phủ có thể ban hành nghị định về khuyến khích phát triển AI an toàn và có trách nhiệm trong quý IV/2027.

ghi-chu-trong-4-hinh(1).jpg
Chú giải và ghi chú bổ sung cho các hình minh họa về văn bản quy phạm pháp luật được đề xuất ở trên.

Nhìn tổng thể, 20 văn bản pháp quy nêu trên hướng tới hoàn thiện khung pháp lý quản trị và phát triển AI của Việt Nam theo hướng chủ động, đồng bộ và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của công nghệ. Trong đó, quản lý rủi ro phải đi cùng kiểm soát hạ tầng và giám sát hành vi AI tác nhân; bảo vệ dữ liệu gắn với giữ vững chủ quyền công nghệ; xác định trách nhiệm pháp lý đi đôi với bảo đảm quyền con người và lợi ích xã hội.

Điều quan trọng là xác định đúng thứ tự ưu tiên, trách nhiệm của từng cơ quan và lộ trình ban hành, tránh để quy định pháp luật chậm hơn quá xa so với thực tiễn phát triển công nghệ. Khung pháp lý về AI phải đủ chặt chẽ để kiểm soát rủi ro, nhưng cũng đủ linh hoạt để khuyến khích đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực tự chủ, giữ vững chủ quyền AI quốc gia và thúc đẩy phát triển vì con người.

Nguyễn Ngọc Trân - Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại