Cải cách tiền lương - Đòn bẩy đổi mới nền công vụ:Bài cuối: Hài hòa thu nhập và năng suất lao động
Theo PGS.TS Định Trọng Thịnh - chuyên gia kinh tế (Học viện Tài chính): Cải cách tiền lương cần gắn với năng suất lao động và điều kiện phát triển của nền kinh tế. Qua đó, vừa cải thiện thu nhập, vừa tạo động lực thúc đẩy sản xuất.
Tiền lương phải gắn với năng suất lao động
Cải cách chính sách tiền lương đang được đặt trong quá trình xây dựng Đề án mới, dự kiến trình Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV xem xét vào tháng 3/2027. Vấn đề này, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, chính sách tiền lương nếu được xây dựng phù hợp sẽ vừa góp phần bảo đảm đời sống người hưởng lương, vừa tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.
PGS.TS Định Trọng Thịnh - Chuyên gia kinh tế (Học viện Tài chính) có cùng quan điểm, chính sách tiền lương cần được xây dựng sát với thực tiễn, gắn với năng suất lao động và yêu cầu phát triển kinh tế, đồng thời tính toán phù hợp để vừa cải thiện thu nhập, vừa góp phần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. “Tiền lương phải gắn với đời sống xã hội và gắn với các yêu cầu để thúc đẩy sản xuất. Vì vậy, việc cải cách chế độ tiền lương cần sát với thực tiễn và đúng với yêu cầu quản lý nhà nước. Đó là yêu cầu cần đặt ra để chính sách tiền lương trở nên thực tế và phù hợp”, ông Đinh Trọng Thịnh nhấn mạnh.
Quan điểm này cũng phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 27-NQ/TW, trong đó xác định cải cách tiền lương phải lấy tăng năng suất lao động làm cơ sở để tăng lương, đồng thời hướng tới tạo động lực nâng cao hiệu quả làm việc và chất lượng nguồn nhân lực.
.jpg)
Từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh từ 2,34 triệu đồng lên 2,53 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng, những điều chỉnh về tiền lương trong thời gian tới cần được nhìn trong mối quan hệ tổng thể với năng suất và sức khỏe của nền kinh tế.
Khi được hỏi về những tác động cần tính toán khi cải cách tiền lương trên diện rộng, nhất là đối với lạm phát, sức mua và ổn định kinh tế vĩ mô, PGS.TS Định Trọng Thịnh cho rằng, việc điều chỉnh tiền lương phải được đặt trong mối quan hệ hài hòa với tốc độ tăng trưởng sản xuất. Vậy nên, cải cách tiền lương là một vấn đề quan trọng đối với nền kinh tế. Bởi, tiền lương vừa liên quan trực tiếp đến thu nhập và sức mua của người dân, vừa tác động đến chi phí và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ông Đinh Trọng Thịnh phân tích, “cải cách tiền lương phải là một trong những vấn đề quan trọng của nền kinh tế, vừa bảo đảm mức độ tăng trưởng sản xuất phù hợp với mức tăng tiền lương, đồng thời việc tăng tiền lương cũng phải hợp lý”.
Theo cách tiếp cận này, việc điều chỉnh tiền lương cần được tính toán trong tương quan với tốc độ tăng trưởng, năng lực sản xuất và khả năng đáp ứng của nền kinh tế. Mục tiêu không chỉ là cải thiện thu nhập mà còn bảo đảm sự cân đối giữa thu nhập, sức mua và các yếu tố của nền kinh tế.
Nghị quyết số 27-NQ/TW cũng đặt cải cách tiền lương trong quan hệ với các cân đối lớn của nền kinh tế, thị trường lao động và đời sống người hưởng lương; đồng thời yêu cầu lộ trình cải cách phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và nguồn lực của đất nước. Một vấn đề khác được đặt ra là chính sách tiền lương khu vực công cần được đặt trong tương quan như thế nào với thị trường lao động để nâng cao khả năng thu hút, giữ chân nhân lực chất lượng cao. Đây chính là một yêu cầu xuất phát từ thực tế của đời sống kinh tế - xã hội. Việc cải thiện chế độ tiền lương phải đi cùng với việc tạo điều kiện để người lao động yên tâm công tác, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp. Đồng thời, khi tăng lương, ngoài những yêu cầu về kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế, còn phải tính đến tác động nâng cao năng suất.
Nhiều chuyên gia cũng đồng tình với nhận định, tiền lương không chỉ là khoản thu nhập của người lao động mà còn có ý nghĩa trong việc tạo động lực làm việc, thu hút nhân lực và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Đặc biệt là trong khu vực công, việc xây dựng chính sách thu nhập phù hợp có thể góp phần củng cố sự ổn định của đội ngũ, tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm thực hiện nhiệm vụ được giao. Đây cũng là một trong những mục tiêu mà Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra khi xác định tiền lương phải thực sự trở thành nguồn thu nhập chính, tạo động lực nâng cao năng suất và hiệu quả làm việc.
Thực hiện theo lộ trình phù hợp
Ở góc độ tác động lan tỏa, việc cải thiện tiền lương có thể tạo thêm động lực đối với thị trường lao động, tiêu dùng và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bởi, nâng cao mức tiền lương của công nhân sẽ trở thành một trong những yếu tố thu hút lực lượng lao động vào các doanh nghiệp cũng như các cơ quan quản lý. Từ đó, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và nâng cao mức chi tiêu.
Điều này hoàn toàn logic với thực tế. Khi thu nhập được cải thiện, sức mua của người lao động có điều kiện tăng lên, qua đó tạo thêm cầu cho hàng hóa và dịch vụ. Ở chiều ngược lại, việc thu hút và duy trì lực lượng lao động phù hợp cũng góp phần đáp ứng yêu cầu nhân lực của các cơ quan, doanh nghiệp. Tuy nhiên, tác động của chính sách tiền lương không diễn ra độc lập mà luôn gắn với diễn biến sản xuất, kinh doanh và khả năng cung ứng của nền kinh tế. Vì vậy, quá trình cải cách cần có sự tính toán đồng bộ để phát huy tác động tích cực đối với tăng trưởng và đời sống, đồng thời hạn chế những biến động không mong muốn.
Như nhận định của PGS.TS Định Trọng Thịnh về lộ trình cải cách, việc điều chỉnh tiền lương cần gắn với quá trình xem xét, đánh giá từng năm và nhu cầu tiêu dùng thực tế của người dân. Cách tiếp cận theo lộ trình sẽ giúp chính sách tiền lương được điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế, đồng thời hạn chế những tác động đột ngột đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội. “Lộ trình tăng lương phải liền với quá trình xem xét trong từng năm và phải bảo đảm nhu cầu tiêu dùng của người tiêu dùng. Do đó, việc nâng cao chính sách tiền lương có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh”, ông Định Trọng Thịnh nói.
Đặt trong tổng thể, cải cách tiền lương cần hướng tới sự hài hòa giữa cải thiện thu nhập, nâng cao năng suất lao động và bảo đảm các cân đối kinh tế. Đây cũng là yêu cầu xuyên suốt của Nghị quyết số 27-NQ/TW, khi chính sách tiền lương được xác định vừa liên quan trực tiếp đến đời sống người hưởng lương, vừa gắn với năng suất lao động, hiệu quả làm việc và sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Chính vì vậy, tiền lương vì thế cần được nhìn nhận không chỉ ở khía cạnh thu nhập mà còn ở vai trò tạo động lực cho người lao động, thúc đẩy sản xuất, mở rộng sức mua và góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Một lộ trình phù hợp, được tính toán trên cơ sở thực tiễn và khả năng phát triển của nền kinh tế, sẽ là yếu tố quan trọng để chính sách phát huy hiệu quả trong giai đoạn tới.