Tăng trưởng hai con số cần nền tảng vĩ mô vững chắc
Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2027 được Trung ương đặt ra nhằm "tạo đà, tạo thế, tạo lực cho những năm tiếp theo". Theo TS. HUỲNH THANH ĐIỀN, giảng viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, "yếu tố tiên quyết để đạt được mục tiêu này là giữ ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó kiểm soát lạm phát là yêu cầu cốt lõi".
Quyết tâm tạo bước chuyển mạnh về tăng trưởng
- Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Trung ương thống nhất mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP năm 2027 từ 10% trở lên, đồng thời kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4,5%. Theo ông, cần tập trung vào những giải pháp nào để thúc đẩy tăng trưởng nhưng vẫn giữ ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là trong bối cảnh áp lực lạm phát và tăng trưởng tín dụng ở mức cao?
- Việc Trung ương đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2027 từ 10% trở lên thể hiện quyết tâm tạo bước chuyển mạnh về tăng trưởng, đồng thời đặt ra yêu cầu phải kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Đây không chỉ là mục tiêu cho riêng năm 2027 mà còn đòi hỏi phải tạo được đà tăng trưởng liên tục cho những năm tiếp theo để cụ thể hóa mục tiêu 2030 trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao.

Xét dưới góc độ kinh tế, theo tôi, yếu tố tiên quyết để đạt được mục tiêu này là giữ ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó kiểm soát lạm phát là yêu cầu cốt lõi. Nếu chỉ tập trung "bơm" tín dụng bằng mọi giá để chạy theo tăng trưởng ngắn hạn, nguy cơ lạm phát cao sẽ khiến nền kinh tế khó duy trì đà tăng trưởng bền vững.
Trong bối cảnh áp lực lạm phát cao, tăng trưởng tín dụng 9 tháng năm 2026 đạt 11,59% so với cuối năm 2025, cần tập trung vào các động lực có sức lan tỏa. Trước mắt, khi các dự án đã sẵn sàng, cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công để kích hoạt đầu tư tư nhân, tạo đơn hàng cho các ngành xây dựng, vật liệu, cơ khí, logistics và dịch vụ liên quan. Đồng thời, cần thúc đẩy các chương trình kích cầu tiêu dùng nội địa, giúp doanh nghiệp tăng sản xuất, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Về tiền tệ, tín dụng không nên mở rộng đại trà mà cần hướng vào sản xuất, kinh doanh, hạn chế dòng tiền chảy vào các kênh đầu cơ như bất động sản, vàng và chứng khoán. Cùng với đó, cần kiểm soát tỷ giá, linh hoạt sử dụng các công cụ thị trường mở để điều tiết lượng tiền, vừa hỗ trợ sản xuất vừa giữ ổn định kinh tế vĩ mô.
Về dài hạn, muốn duy trì tăng trưởng hai con số, cần tái cơ cấu nền kinh tế, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tăng năng suất và giá trị gia tăng. Các cơ chế ưu đãi về thuế, lãi vay, hỗ trợ đầu tư cần sớm được cụ thể hóa, tập trung vào công nghệ cao, năng lượng tái tạo, môi trường, y tế, giáo dục chất lượng cao và các không gian kinh tế mới. Đồng thời, cần quy hoạch hành lang kinh tế, khu công nghiệp để mở rộng dư địa phát triển.
Rà soát, phân loại vướng mắc để xử lý
- Theo số liệu tổng hợp, phân loại trên Hệ thống 751 của Ban Chỉ đạo về giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc các dự án tồn đọng, đến ngày 27/9/2026, cả nước có 4.846 dự án khó khăn, vướng mắc, tổng diện tích sử dụng đất 208.882 ha và tổng mức đầu tư 3.498.889 tỷ đồng. Theo ông, cần tập trung tháo gỡ những vướng mắc nào để sớm đưa nguồn lực này vào hoạt động, bảo đảm đúng tinh thần chỉ đạo của Trung ương là “phải đưa nguồn lực đã huy động vào sản xuất, kinh doanh”; “không để lãng phí vốn, đất đai, tài sản và cơ hội”?
- Hiện nay, một số dự án đầu tư của doanh nghiệp vẫn gặp vướng mắc về pháp lý và thủ tục, khiến quá trình triển khai kéo dài, nguồn lực chưa được đưa vào khai thác hiệu quả. Vì vậy, cần rà soát, phân loại cụ thể các vướng mắc để có giải pháp xử lý phù hợp.
Trước hết, cần tập trung vào những vấn đề liên quan đến đất đai, thẩm định môi trường và điều kiện kinh doanh. Các cơ quan quản lý nên tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành, đẩy nhanh việc xử lý hồ sơ, hạn chế tình trạng kéo dài do quy trình chưa thông suốt.
Đối với các dự án công, giải phóng mặt bằng là một trong những khâu cần được quan tâm. Chính quyền địa phương cần sâu sát thực tế, tăng cường đối thoại, giải thích rõ chính sách và xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phù hợp, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân, qua đó tạo đồng thuận trong quá trình triển khai. Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh công tác nghiệm thu, thanh toán và giải ngân đối với các công trình đã đủ điều kiện. Việc xử lý kịp thời các thủ tục này giúp doanh nghiệp có nguồn vốn duy trì hoạt động, thanh toán chi phí và tiếp tục triển khai dự án, góp phần bảo đảm tiến độ đầu tư.
Với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, cải thiện môi trường kinh doanh cũng cần gắn với đơn giản hóa thủ tục chấm dứt hoạt động, giải thể doanh nghiệp. Khi chi phí và thời gian thực hiện các thủ tục này được giảm bớt, người dân và doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong việc tái cơ cấu hoạt động hoặc khởi sự kinh doanh mới.
Một giải pháp quan trọng khác là đẩy mạnh số hóa quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ và công khai tiến độ giải quyết để tăng cường giám sát, nâng cao trách nhiệm của cơ quan thực thi và hạn chế chi phí phát sinh cho doanh nghiệp. Đồng thời, cần kịp thời chấn chỉnh những trường hợp chậm trễ, thiếu trách nhiệm, bảo đảm các quy định được thực hiện thống nhất và hiệu quả.
- Trung ương xác định đầu tư công phải dẫn dắt đầu tư xã hội, khơi thông đầu tư tư nhân và phát triển doanh nghiệp trong nước. Cần làm gì để vốn đầu tư công thực sự tạo đơn hàng cho doanh nghiệp nội địa, nâng cao năng lực của doanh nghiệp, thưa ông?
- Mục tiêu cốt lõi của đầu tư công là tạo sức lan tỏa, làm hạt nhân kích thích nguồn lực đầu tư tư nhân phát triển. Khi Nhà nước đầu tư hạ tầng như sân bay hay cao tốc, hiệu quả lan tỏa chỉ thực sự đạt được khi dòng vốn đó tạo ra đơn hàng và việc làm cho chính các doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, thời gian qua, tính lan tỏa này còn hạn chế do chúng ta chưa tạo điều kiện tốt để doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng của các dự án lớn. Nhiều dự án phụ thuộc vào nhà thầu nước ngoài hoặc sử dụng yếu tố đầu vào nhập khẩu, khiến dòng tiền ngân sách chảy ra ngoài thay vì ở lại nuôi dưỡng năng lực của doanh nghiệp trong nước.
Để đầu tư công thực sự dẫn dắt đầu tư xã hội, ngay từ khi công bố danh mục đầu tư công, nhà nước cần phối hợp với các hiệp hội ngành nghề để doanh nghiệp trong nước chuẩn bị năng lực, công nghệ và sẵn sàng tham gia dự thầu các hạng mục cung ứng vật tư, thiết bị, thi công.
Bên cạnh đó, Nghị quyết số: 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân quy định “gói thầu xây lắp, mua sắm hàng hóa, gói thầu hỗn hợp cung cấp hàng hóa và xây lắp sử dụng ngân sách nhà nước có giá gói thầu không quá 20 tỷ đồng được dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa”; cần thực thi đầy đủ, nghiêm túc quy định này. Việc giành được các hợp đồng lớn từ dự án công sẽ tạo cơ hội để doanh nghiệp nội địa tích lũy vốn, nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ và từng bước trưởng thành.
Sau cùng, đầu tư công cần được xem là công cụ phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và khoa học, công nghệ trong nước. Chỉ khi doanh nghiệp nội địa có đơn hàng từ các dự án quốc gia, nền công nghiệp trong nước mới có nền tảng để phát triển tự chủ và bền vững.
- Xin cảm ơn ông!