Điều chỉnh điểm cộng IELTS để "tuyển đúng, tuyển trúng" thí sinh phù hợp với ngành học
Theo các chuyên gia, ngoại ngữ vẫn là năng lực quan trọng, nhưng không phải ngành học nào cũng xem đây là năng lực cốt lõi khi tuyển sinh. Việc điều chỉnh điểm cộng nhằm hướng tới đánh giá thí sinh trên nhóm năng lực phù hợp với yêu cầu của từng chương trình đào tạo, qua đó bảo đảm cạnh tranh công bằng và tuyển đúng, tuyển trúng.
Ngày 7/10, Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức Talkshow với chủ đề: "Đổi mới tuyển sinh đại học: Công bằng, thực chất và lộ trình dài hạn".
.jpg)
Cạnh tranh đầu vào cần dựa trên nhóm năng lực cốt lõi của ngành học
Chia sẻ tại chương trình, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ GD-ĐT nhấn mạnh, cách hiểu “bỏ chứng chỉ ngoại ngữ” hay "đưa chứng chỉ ngoại ngữ ra khỏi các phương thức xét tuyển" là không chính xác. Ngoại ngữ vẫn là một khâu quan trọng trong tuyển sinh, trong tổ chức đào tạo, cũng như cơ hội nghề nghiệp của sinh viên sau này.
Cách thức điều chỉnh được đặt ra nhằm bảo đảm quyền lợi của thí sinh và tính công bằng trong tuyển sinh. Theo đó, chứng chỉ ngoại ngữ vẫn được sử dụng để quy đổi, thay thế điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển theo quy tắc công khai; chứng minh yêu cầu ngoại ngữ đầu vào của chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài; hoặc được xem xét công nhận học phần, chuẩn đầu ra theo quy định. Nội dung đề xuất thay đổi là không cộng thêm điểm ngoài thang đánh giá chính do từng trường tự quy định đối với chứng chỉ, thành tích hoặc tiêu chí bổ sung.
.jpg)
GS.TS Nguyễn Tiến Thảo phân tích, "điểm cộng" thực chất là phần điểm được thêm vào kết quả xét tuyển. Có những tổ hợp xét tuyển hoặc nhóm ngành đào tạo, ngoại ngữ không phải năng lực cốt lõi để cạnh tranh đầu vào, không phải yêu cầu thiết yếu nhất của chương trình đào tạo. Đơn cử như một ngành đòi hỏi năng lực quan trọng nhất là các môn khoa học tự nhiên, nếu hai thí sinh có năng lực này nhưng một em lại được cộng điểm và trúng tuyển nhờ chứng chỉ ngoại ngữ, thì người trúng tuyển chưa chắc đã có năng lực cao hơn đối với ngành học, trong khi thí sinh còn lại có thể bị thua thiệt.
Đặc biệt, có những thí sinh ở vùng sâu, vùng xa không có điều kiện tiếp cận với các chứng chỉ ngoại ngữ; hoặc không chú trọng đến chứng chỉ ngoại ngữ từ sớm bởi khi nhìn vào chương trình đào tạo và chuẩn đầu ra, các em xác định rõ những nhóm năng lực cốt lõi của ngành học và tập trung nhiều hơn vào những năng lực đó.
"Chúng tôi không phủ nhận ngoại ngữ là một năng lực quan trọng, bởi ngoại ngữ không chỉ có ý nghĩa trong tuyển sinh mà còn rất quan trọng trong học tập và cơ hội phát triển nghề nghiệp. Tuy nhiên, khi cạnh tranh đầu vào một chương trình đào tạo, thí sinh cần được đánh giá trên cùng nhóm năng lực cốt lõi phù hợp với chương trình đó", GS.TS Nguyễn Tiến Thảo cho hay.
Bên cạnh đó, theo ông, quy định về cộng điểm giữa các trường đại học hiện nay không đồng nhất, vô hình trung có thể tạo ra sự bất công giữa các thí sinh. Cùng một chứng chỉ IELTS 6.0 hoặc 6.5, nhưng trường này có thể cộng 1,5 điểm, trong khi trường khác chỉ cộng 0,25 điểm. Đây cũng là vấn đề đặt ra khi nói đến tính công bằng trong tuyển sinh.
GS.TS Nguyễn Tiến Thảo cho biết, cách thức điều chỉnh được Bộ GD-ĐT đề xuất nhằm hướng tới việc thí sinh phải cạnh tranh bằng năng lực phù hợp với ngành đào tạo. Trường hợp một trường đại học nhận thấy nhóm ngành đào tạo trước đây chưa có môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển, nhưng năng lực ngoại ngữ vẫn cần thiết, nhà trường có thể nghiên cứu, bổ sung yêu cầu này.
"Khi xét tuyển đúng, xét tuyển trúng, thí sinh không phải kéo dài thời gian học tập do năng lực đầu vào chưa phù hợp. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn sẽ cao hơn, đồng thời người học có thể tham gia thị trường lao động sớm hơn, thay vì kéo dài thời gian học tập do những vấn đề từ đầu vào", GS.TS Nguyễn Tiến Thảo cho hay.
Từ góc nhìn của một cơ sở giáo dục đại học, TS Lê Anh Đức, Trưởng phòng Quản lý đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, đề xuất bỏ điểm cộng đối với chứng chỉ ngoại ngữ không làm mất đi tính tự chủ trong công tác tuyển sinh của các trường. Trên thực tế, các trường có nhiều cách khác nhau để sử dụng chứng chỉ tiếng Anh trong xét tuyển khi không còn cơ chế cộng điểm.
.jpg)
Theo TS Lê Anh Đức, việc bỏ điểm cộng cũng không phủ nhận vai trò của những chứng chỉ tiếng Anh quốc tế mà thí sinh đã và đang sở hữu, trong đó có mục đích xét tuyển. Chẳng hạn trong tuyển sinh, các trường có thể sử dụng kết quả này để quy đổi, thay thế điểm thi môn tiếng Anh trong kỳ thi tốt nghiệp THPT. Tại Đại học Kinh tế Quốc dân, thí sinh có IELTS 5.5 đã có thể được quy đổi thành 8 điểm. Vì vậy, với những thí sinh xét tuyển vào tổ hợp có môn tiếng Anh, chứng chỉ vẫn được quy đổi điểm và đây là một lợi thế đáng kể.
Bên cạnh đó, các trường có nhiều chương trình đào tạo mà tiếng Anh là một trong những yêu cầu đầu vào, đặc biệt là các chương trình được giảng dạy và học tập bằng tiếng Anh. Các trường cũng có nhiều chương trình đào tạo liên kết với nước ngoài, trong đó tiếng Anh là yêu cầu tối thiểu để thí sinh có thể trúng tuyển và theo học. Đặc biệt, trong môi trường học tập hướng tới tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai, chứng chỉ IELTS mà các em có được trước khi xét tuyển sẽ tạo ra lợi thế trong cả hành trình học tập.
"Đích đến cuối cùng vẫn là chất lượng đầu ra. Khi tốt nghiệp, bên cạnh năng lực chuyên môn được khẳng định và đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo, năng lực tiếng Anh cũng là một yếu tố quan trọng để các em có thể hội nhập ngay với thị trường lao động quốc tế. Do đó, tôi cho rằng điều chỉnh của Bộ GD-ĐT hướng tới mục tiêu cao nhất là bảo đảm sự công bằng trong toàn hệ thống, nhưng không phủ nhận vai trò cốt lõi của các chứng chỉ tiếng Anh như IELTS đối với thí sinh", TS Lê Anh Đức nhấn mạnh.
Công tác tuyên truyền cần đi trước một bước
Liên quan đến lộ trình đề xuất triển khai từ năm 2027, trao đổi tại chương trình, Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội chuyên trách TP. Hải Phòng Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, cần sớm công bố, minh bạch các phương thức tuyển sinh nếu có sự thay đổi, giúp phụ huynh và học sinh biết mình cần làm gì để đáp ứng các yêu cầu. Ngược lại, nếu chưa nắm được, chưa hiểu rõ thì có thể dẫn đến những cách hiểu chưa chính xác, thậm chí gây hoang mang.
Bên cạnh việc công khai thông tin, nên có các mục hỏi - đáp để phụ huynh, học sinh và giáo viên có thể bày tỏ những băn khoăn, thắc mắc; đồng thời, Bộ GD-ĐT giải đáp cụ thể những vấn đề đó.
.jpg)
"Khi các thắc mắc được giải đáp đầy đủ, tôi tin rằng sẽ tạo được sự đồng thuận lớn hơn. Nếu chúng ta chỉ đưa ra thông tin về việc chuyển từ phương thức này sang phương thức khác mà chưa làm rõ ý nghĩa, mục đích của sự thay đổi thì dễ dẫn đến tình trạng phụ huynh, học sinh chưa hiểu đầy đủ. Đặc biệt, cần chú ý đến học sinh ở vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng còn hạn chế hơn so với những khu vực thuận lợi. Công tác tuyên truyền nên đi trước một bước", đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cũng chia sẻ, khi thí sinh nhận được thông tin về một sự thay đổi, tâm trạng đầu tiên có thể là lo lắng. Tuy nhiên, mục đích của thi cử, đặc biệt là thi tuyển sinh, là đánh giá được năng lực thực chất của người học để xem năng lực đó đáp ứng đến đâu yêu cầu tuyển sinh của nhà trường.
"Khi các em có năng lực thực chất thì dù tuyển sinh bằng cách này hay cách khác, mục tiêu vẫn là hướng tới việc đánh giá ngày càng thực chất, chính xác năng lực của các em. Vì vậy, các em có thể yên tâm rằng nếu tập trung vào việc học và có năng lực thực chất thì dù được đánh giá bằng phương thức nào, năng lực của các em vẫn được ghi nhận", đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho hay.
TS Lê Anh Đức, Trưởng phòng Quản lý đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, sự ổn định của chính sách tuyển sinh là rất quan trọng, nhưng không đồng nghĩa với việc không có những điều chỉnh. Mỗi lứa thí sinh, mỗi năm tuyển sinh đều có thể đặt ra những yêu cầu cần điều chỉnh để hướng tới mục tiêu công bằng hơn, xét tuyển thực chất hơn.
Ông cũng cho biết, Đại học Kinh tế Quốc dân đã công bố khá sớm phương hướng tuyển sinh. Ngay từ tháng 6 năm 2026, nhà trường đã công bố phương hướng tuyển sinh năm 2027. Đến nay, phương hướng đó về cơ bản phù hợp với dự thảo điều chỉnh quy chế tuyển sinh của Bộ GD-ĐT.
.jpg)
Cần phân biệt chứng chỉ phục vụ tuyển sinh với năng lực ngoại ngữ thực chất
Một số ý kiến cho rằng, việc “IELTS không còn được cộng điểm” có đang mâu thuẫn khi Nghị quyết 71 đặt ra định hướng rất lớn: Tăng cường dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Nêu quan điểm về vấn đề này, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ GD-ĐT nhấn mạnh, cần phân biệt rõ giữa việc sử dụng tiếng Anh, chứng chỉ IELTS phục vụ tuyển sinh với năng lực ngoại ngữ phục vụ học tập và nghiên cứu. Khi chỉ đặt mục tiêu sử dụng chứng chỉ để phục vụ tuyển sinh, chúng ta dễ đặt nặng vấn đề điểm số. Còn khi hướng tới năng lực ngoại ngữ đủ mạnh để phục vụ học tập, nghiên cứu thì người học phải được “nhúng” trong môi trường ngoại ngữ. Khi đó mới thực sự đi vào bản chất của mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, trong quá trình học tập, chứng chỉ chỉ là một thước đo, cho thấy năng lực và kết quả tích lũy của người học đã đạt đến một mức độ nhất định. Mục tiêu quan trọng hơn là khi học tập, nghiên cứu, người học có thể tiếp cận, hấp thụ tri thức khoa học và công nghệ của thế giới, đồng thời truyền tải những thành tựu khoa học, công nghệ của Việt Nam cũng như văn hóa dân tộc ra thế giới.
"Muốn có được năng lực đó, người học phải có thực học, có năng lực thực chất, không chỉ được đo lường bằng việc đạt IELTS 5.5 hay 6.0. Khi nói đến mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, chúng ta hướng tới năng lực sử dụng tiếng Anh thực chất, chứ không phải chỉ hướng tới chứng chỉ để phục vụ tuyển sinh", GS.TS Nguyễn Tiến Thảo cho hay.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nhìn nhận, muốn bảo đảm công bằng trong quá trình tuyển sinh, không nên chỉ nhìn tuyển sinh như một lát cắt riêng lẻ, mà cần nâng cao cơ hội tiếp cận giáo dục một cách công bằng giữa học sinh ở các vùng miền. Bà cho rằng, việc không cộng điểm chứng chỉ ngoại ngữ vào điểm xét tuyển cũng là một trong những cách để bảo đảm sự công bằng này.
Theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, năng lực tiếng Anh và việc có chứng chỉ ngoại ngữ không phải lúc nào cũng đồng nhất. Có những học sinh do điều kiện khó khăn có thể tự học, học từ thầy cô và có năng lực ngoại ngữ rất tốt, nhưng để thi được một chứng chỉ quốc tế lại gặp nhiều trở ngại do vấn đề xa địa điểm thi hay chi phí thi. Chưa kể mỗi loại chứng chỉ quốc tế lại có những yêu cầu riêng, đòi hỏi quá trình ôn luyện để đáp ứng. Điều này cũng tạo thêm khó khăn đối với học sinh ở những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội còn hạn chế.
"Chính vì vậy, nếu chỉ dựa vào chứng chỉ ngoại ngữ để cộng điểm thì có thể dẫn đến tình trạng chưa thực sự công bằng giữa các nhóm thí sinh", đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, chứng chỉ ngoại ngữ có thời hạn sử dụng nhất định. Điều này có thể dẫn đến tình trạng một bộ phận học sinh học vì điểm số, dồn sức học chứng chỉ đó trong một thời gian ngắn để phục vụ mục tiêu tuyển sinh. Cách học như vậy chưa chắc mang lại kiến thức và năng lực ngoại ngữ thực chất, lâu dài cho học sinh.
"Nếu chỉ dồn sức học trong một thời gian để đạt chứng chỉ, sau đó không tiếp tục rèn luyện thì đó chưa phải là định hướng mà chúng ta mong muốn. Khi đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học theo tinh thần Nghị quyết 71, mục tiêu là năng lực tiếng Anh phải trở thành năng lực tự thân của người học và được rèn luyện lâu dài. Do đó, tôi cho rằng quy định này cũng hướng tới việc bảo đảm công bằng thực chất hơn cho thí sinh, đồng thời định hướng học sinh học và sử dụng ngoại ngữ như một nhu cầu tự thân, thay vì chỉ để đáp ứng yêu cầu về điểm số", đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga chia sẻ.