Chính sách và cuộc sống

Quy định ngắn nhưng phải rõ về chính sách

Nguyễn Bình • 30/09/2026 07:18

Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có một quy định rất ngắn gọn tại Điều 23: Trong từng thời kỳ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phù hợp với ưu tiên và mục tiêu phát triển của quốc gia. Tuy ngắn, nhưng đây lại là một trong những điều luật hết sức quan trọng để đưa các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa vào thực tiễn.

Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng, các chương trình hỗ trợ cụ thể mới là những nội dung chính sách quan trọng nhất. Tuy nhiên, nội dung của Điều 23, theo đánh giá của Thường trực Ủy ban, vẫn còn “quá mỏng” và “chưa có nội hàm cụ thể”.

Cơ quan thẩm tra cho biết, các chương trình hỗ trợ cụ thể thường được các nước xây dựng dưới hình thức các chương trình trợ cấp, với mục tiêu chính sách, thời hạn thực hiện và gói dự toán ngân sách rõ ràng, cụ thể, gắn với dự toán ngân sách nhà nước hàng năm. Đơn cử như Chương trình SME Go Digital của Singapore hay các gói tài trợ đổi mới sáng tạo thuộc Khung chiến lược Horizon Europe của EU luôn có mốc thời gian bắt đầu và kết thúc cụ thể cho từng giai đoạn để đánh giá lại hiệu quả. Đối với các khoản tài trợ trực tiếp (Grant) cho R&D hoặc chuyển đổi số, doanh nghiệp phải hoàn thành dự án trong thời gian quy định mới được giải ngân... Cách thiết kế này tạo cơ sở cho việc tổ chức thực hiện chương trình hỗ trợ một cách khả thi, rõ ràng và có thể đánh giá, đo lường được tác động cụ thể của chính sách cũng như hiệu quả sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước.

Dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được thảo luận tại Hội nghị ĐBQH hoạt động chuyên trách lần thứ Nhất. Ảnh: Phạm Thắng

Nhìn từ kinh nghiệm thực tiễn đó, Điều 23 dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện mới xác định thẩm quyền ban hành và định hướng chung của chương trình hỗ trợ. Nếu chỉ dừng ở việc giao Thủ tướng Chính phủ ban hành chương trình hỗ trợ, điều khoản chưa thực sự rõ để định hướng việc xác định mục tiêu, đối tượng, nguồn lực, thời hạn và kết quả cần đạt của các chương trình.

Vì vậy, cần thiết phải rà soát, hoàn thiện Điều 23 chặt chẽ hơn, luật hóa những nguyên tắc cốt lõi để các chương trình hỗ trợ được thiết kế đúng ngay từ đầu. Như đề nghị của cơ quan chủ trì thẩm tra, cần bổ sung những nội dung và nguyên tắc cơ bản để Luật quy định rõ hơn về định hướng, cách thức xây dựng và thực hiện các chương trình hỗ trợ, trợ cấp.

Trên tinh thần đó, cần lưu ý một số nội dung, trước hết là làm rõ căn cứ xây dựng, mục tiêu, đối tượng và tiêu chí lựa chọn. Chương trình hỗ trợ phải phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, khả năng cân đối nguồn lực và các chính sách được quy định trong luật. Thứ hai là trách nhiệm tổ chức thực hiện, công khai và báo cáo kết quả. Thứ ba là thời hạn thực hiện, như đề xuất của Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính là cần rà soát các chính sách hỗ trợ trong dự thảo Luật để bảo đảm nguyên tắc hỗ trợ “có thời hạn” bởi đây chính là điểm phân biệt quan trọng giữa các chính sách hỗ trợ chung, có tính ổn định, với các chương trình hỗ trợ cụ thể nhằm đáp ứng những ưu tiên, mục tiêu trong từng thời kỳ. Thứ tư là cơ chế đánh giá kết quả. Một chương trình sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước phải có những chỉ tiêu đủ rõ để xác định mức độ hoàn thành mục tiêu, kết quả và tác động.

Việc giao Thủ tướng ban hành các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ phù hợp với ưu tiên và mục tiêu của quốc gia là cần thiết để bảo đảm tính chủ động, linh hoạt theo từng thời kỳ. Nhưng sự chủ động, linh hoạt trong điều hành cũng nên được đặt trong một khung nguyên tắc do Luật xác lập. Luật không cần “đóng khung” nội dung của từng chương trình, song cần quy định những yếu tố cốt lõi về căn cứ xây dựng, mục tiêu, đối tượng, nguồn lực, thời hạn, đánh giá và trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Điều này cũng đúng với tinh thần “luật ngắn hơn nhưng không được mỏng về chính sách” mà Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh tại phiên khai mạc Hội nghị ĐBQH hoạt động chuyên trách lần thứ Nhất. Những vấn đề liên quan trực tiếp đến việc xác định mục tiêu, thời hạn và sử dụng nguồn lực nhà nước cần được quy định ngay trong luật. Ngược lại, những nội dung mang tính điều hành, có thể thay đổi theo từng thời kỳ thì cần thiết để Thủ tướng Chính phủ chủ động quyết định.

Điều 23 dự thảo Luật cần tạo được khung pháp lý đủ rõ để mỗi chương trình có mục tiêu, có thời hạn, có nguồn lực, có trách nhiệm và có cơ chế đánh giá. Đây không chỉ là yêu cầu đối với một điều khoản cụ thể. Đó còn là cách bảo đảm chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được thiết kế theo hướng có trọng tâm, sử dụng nguồn lực có căn cứ và có thể kiểm chứng được kết quả.

Nguyễn Bình