Chính sách dân tộc tạo sức bật cho vùng cao Lào Cai
Từ những tuyến đường được mở đến bản, điện, nước, trường học, trạm y tế được đầu tư, đến những mô hình chăn nuôi, sản xuất hàng hóa đem lại nguồn thu nhập ổn định, các chính sách dân tộc, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình 1719), đang thực sự đi vào cuộc sống, tạo nên những thay đổi căn bản về diện mạo và đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi Lào Cai.
Tạo sinh kế, thay đổi tư duy canh tác
Ở những bản làng vùng cao Lào Cai hôm nay, hiệu quả của chính sách dân tộc không chỉ được nhìn thấy qua những con số về nguồn vốn hay tỷ lệ giải ngân. Đó là những con đường bê tông nối bản làng với trung tâm xã giúp giao thương thuận tiện, là ánh điện đến với từng gia đình, nguồn nước hợp vệ sinh, trường học, trạm y tế được đầu tư ngày càng đồng bộ; rõ nét hơn cả là những sinh kế và kỹ thuật canh tác mới đang giúp người dân có thêm thu nhập, từng bước ổn định cuộc sống.

Nhờ được hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi và kỹ thuật canh tác, nhiều hộ dân ở xã Phình Hồ đã thay đổi tư duy sản xuất, vươn lên thoát nghèo và từng bước làm giàu. Điển hình như gia đình chị Hờ Thị Súa thôn Tả Chử, sau quá trình tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm, chị lựa chọn nuôi dê - loại vật nuôi phù hợp với điều kiện vùng cao. Từ những bước thử nghiệm ban đầu, đàn dê của gia đình đã phát triển lên gần 100 con, đem lại thu nhập khoảng 100 triệu đồng mỗi năm. Kết hợp chăn nuôi gia cầm, gia đình chị từng bước có điều kiện xây dựng nhà cửa khang trang, chăm lo tốt hơn cho việc học hành của các con.
Còn ở thôn Thái Y, xã Cảm Nhân, chị Vương Thị Thơ lại chọn hướng phát triển chăn nuôi đại gia súc theo hướng hàng hóa. Từ quy mô hộ gia đình, chị từng bước mở rộng chuồng trại, hiện nuôi hàng chục con bò. Khi quy mô đàn vật nuôi tăng lên, cách chăn nuôi cũng thay đổi theo hướng bài bản hơn, chú trọng vệ sinh, khử trùng chuồng trại, tiêm phòng để hạn chế dịch bệnh. Tại Cảm Nhân, nhiều hộ có nguồn thu chủ yếu từ chăn nuôi đạt khoảng 50 - 60 triệu đồng mỗi năm.

Tại xã vùng cao, biên giới A Mú Sung, nơi đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 98% dân số. Từ tỷ lệ hộ nghèo trên 40% cuối năm 2024, đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm còn 28,23%; thu nhập bình quân đầu người đạt gần 33 triệu đồng/năm. Riêng năm 2025, hơn 50 tỷ đồng từ các chương trình mục tiêu quốc gia được phân bổ cho địa phương, tạo thêm nguồn lực đầu tư hạ tầng và hỗ trợ người dân phát triển sản xuất.
Từ nền tảng đó, người dân A Mú Sung được vận động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và nhu cầu thị trường. Bên cạnh lúa, ngô truyền thống, nhiều hộ đã đưa dược liệu, chè, chuối, quế vào sản xuất, tạo thêm việc làm và nguồn thu.
Những câu chuyện ở Phình Hồ, Cảm Nhân hay A Mú Sung cho thấy chính sách dân tộc đã tạo điểm tựa để người dân tự thay đổi cuộc sống. Từ sản xuất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp, nhiều hộ đã từng bước hướng đến sản xuất hàng hóa; từ dựa nhiều vào kinh nghiệm chuyển sang chú trọng kỹ thuật, thị trường; từ tâm lý chờ đợi hỗ trợ sang chủ động tìm hướng phát triển phù hợp. Đó cũng chính là giá trị bền vững nhất mà các chính sách dân tộc đang từng bước tạo dựng ở vùng cao Lào Cai.
Chuyển từ hỗ trợ sang kiến tạo cơ hội phát triển
Sau hợp nhất, Lào Cai có tới 95 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó 47 xã khu vực III. Toàn tỉnh có 2.438 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó 1.033 thôn đặc biệt khó khăn. Với đặc thù địa bàn rộng, địa hình chia cắt, dân cư phân tán và tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, việc thực hiện chính sách dân tộc được Lào Cai xác định là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển bền vững của tỉnh.
Trong đó, Chương trình 1719 giữ vai trò là một trong những nguồn lực trọng tâm. Giai đoạn 2021 - 2025, tổng nguồn vốn ngân sách Trung ương thực hiện Chương trình trên địa bàn tỉnh đạt hơn 6.309 tỷ đồng. Nguồn lực này không chỉ dành cho kết cấu hạ tầng mà còn được triển khai thông qua các dự án phát triển sản xuất, giáo dục, đào tạo nghề, y tế, văn hóa và giải quyết những nhu cầu thiết yếu của người dân.
Theo đó, tỷ lệ giảm nghèo bình quân toàn tỉnh đạt trên 4%/năm, riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm trên 6,3%/năm. Thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số năm 2025 đạt trên 33 triệu đồng/người/năm, khoảng gấp đôi so với đầu giai đoạn. Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện phù hợp đạt khoảng 99%; tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt khoảng 98,6%.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy còn những chỉ tiêu khó hoàn thành liên quan đến số xã, thôn thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn; tiếp cận thông tin; đất ở, đất sản xuất; bảo hiểm y tế và sắp xếp, ổn định dân cư. Một số khu vực vùng cao vẫn thiếu nước vào mùa khô, điện lưới chưa ổn định; nhiều công trình thường xuyên đối mặt nguy cơ lũ quét, sạt lở. Hiệu quả các dự án hỗ trợ sản xuất cũng chưa đồng đều, liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã và thị trường ở một số nơi chưa thực sự bền vững.

Bởi vậy, trong giai đoạn 2026 - 2030, Lào Cai đặt mục tiêu nâng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số từ trên 33 triệu đồng lên 60 triệu đồng/người/năm, phấn đấu cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn; tiếp tục cải thiện nhà ở, nước sinh hoạt, điện, giao thông, sắp xếp dân cư và khả năng tiếp cận các dịch vụ số.
Nguồn lực sẽ được ưu tiên theo mức độ thiếu hụt và số người hưởng lợi, trước hết tại 47 xã khu vực III, 1.033 thôn đặc biệt khó khăn, các địa bàn biên giới và khu vực có nguy cơ cao về sạt lở, lũ quét. Mỗi dự án được đặt ra yêu cầu phải làm rõ đối tượng thụ hưởng, khả năng vận hành, duy tu và đặc biệt là tác động trực tiếp đến thu nhập, mức sống của người dân.
Cùng với đầu tư hạ tầng, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là chuyển mạnh hơn từ hỗ trợ sang kiến tạo cơ hội phát triển. Người dân không chỉ cần vốn mà cần kiến thức để sử dụng vốn hiệu quả; không chỉ cần cây, con giống mà cần kỹ thuật, liên kết sản xuất và thị trường; không chỉ cần một tuyến đường vào bản mà cần có những sản phẩm đủ sức theo chính con đường ấy đi ra thị trường.
Sau những kết quả đạt được, thước đo của chính sách dân tộc tại Lào Cai trong chặng đường tới vì thế không chỉ là bao nhiêu công trình được xây dựng hay bao nhiêu nguồn vốn được giải ngân. Quan trọng hơn là bao nhiêu hộ dân có nước sạch, điện ổn định; bao nhiêu sinh kế và việc làm mới được tạo ra; thu nhập của đồng bào tăng lên ra sao và những địa bàn khó khăn nhất thay đổi như thế nào.
Khi chính sách thực sự sát với nhu cầu, nguồn lực đến đúng địa chỉ và người dân được đặt ở vị trí chủ thể, những con đường, công trình và mô hình sinh kế sẽ không chỉ làm thay đổi diện mạo vùng cao mà còn tạo nên sức bật từ bên trong mỗi bản làng. Đó chính là nền tảng để vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Lào Cai tiếp tục thu hẹp khoảng cách phát triển, từng bước xây dựng cuộc sống ngày càng đủ đầy và bền vững hơn.