Nhân chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Đưa hợp tác giáo dục Việt Nam – Hoa Kỳ vào những lĩnh vực chiến lược
Từ nền tảng hợp tác giáo dục đã được hình thành qua nhiều thập niên, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đang mở thêm những hướng đi mới, thực chất và gắn với nhu cầu phát triển dài hạn.

Trong khuôn khổ chuyến công tác tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 81 và thực hiện các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ, tại New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tiếp Giáo sư Sarah Anne Soule, Hiệu trưởng Trường Kinh doanh Stanford thuộc Đại học Stanford.
Tại cuộc gặp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ quan tâm tới những ưu tiên của Stanford trong đào tạo, phát triển năng lực lãnh đạo và trí tuệ nhân tạo (AI).

Theo định hướng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu tại cuộc gặp, ba lĩnh vực có thể trở thành trọng tâm hợp tác giữa Việt Nam và Stanford gồm phát triển năng lực lãnh đạo; tăng cường năng lực đổi mới sáng tạo và chuyên môn về AI; thúc đẩy các chương trình nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, hướng tới việc Việt Nam trở thành đối tác đồng sáng tạo tri thức và giá trị mới.
Kết nối nguồn lực tri thức người Việt
Trước cuộc gặp với Hiệu trưởng Trường Kinh doanh Stanford, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam cũng đã gặp gỡ các chuyên gia, trí thức người Việt Nam tại Hoa Kỳ. Hai hoạt động diễn ra trong cùng một ngày nhưng cùng hướng tới một vấn đề có ý nghĩa ngày càng lớn đối với Việt Nam: kết nối nguồn lực tri thức bên ngoài với các mục tiêu phát triển trong nước.

Nếu cuộc gặp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với đại diện Stanford mở ra khả năng kết nối Việt Nam với một mạng lưới giáo dục, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo hàng đầu của Hoa Kỳ, thì đội ngũ chuyên gia, trí thức người Việt tại Hoa Kỳ là một cầu nối trực tiếp với những mạng lưới đó. Nhiều người Việt đang giảng dạy, nghiên cứu, học tập và làm việc tại các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ của Hoa Kỳ, đồng thời có kinh nghiệm chuyên môn và các kết nối quốc tế.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt trọng tâm vào phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc kết nối đội ngũ trí thức này với các cơ sở giáo dục, nghiên cứu và doanh nghiệp trong nước có thể mở rộng thêm các kênh hợp tác về đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao tri thức và phát triển công nghệ.

Những hợp tác giáo dục thực chất
Quy mô hợp tác giáo dục giữa hai nước đã có nền tảng đáng kể. Hai bên đã ký kết và triển khai nhiều bản ghi nhớ hợp tác (MOU) trong lĩnh vực này. Hiện có khoảng 50 chương trình liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục đại học Việt Nam và đối tác Hoa Kỳ, chủ yếu ở bậc đại học và thạc sĩ, tập trung vào kỹ thuật - công nghệ, khoa học máy tính và kinh tế. Các trường đại học hai nước còn hợp tác về khoa học - công nghệ, biến đổi khí hậu, nông nghiệp và giáo dục STEM.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, hơn 31.000 công dân Việt Nam học tập tại Hoa Kỳ trong năm học 2024-2025, tăng khoảng 6% so với năm học trước. Việt Nam hiện nằm trong nhóm những quốc gia có số lượng sinh viên quốc tế lớn tại Hoa Kỳ.
Phía Hoa Kỳ cũng ghi nhận giáo dục và giao lưu nhân dân là một trong những lĩnh vực phát triển mạnh trong quan hệ song phương. Hệ sinh thái hợp tác còn bao gồm chương trình Fulbright, các chương trình trao đổi, mạng lưới cựu học viên và các hoạt động hỗ trợ phát triển giáo dục đại học.
Năm 2025, trong Chương trình Hợp tác học thuật quốc tế (IAPP) do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Phái đoàn Ngoại giao Hoa Kỳ tại Việt Nam và Viện Giáo dục quốc tế Hoa Kỳ (IIE) tổ chức, hơn 40 lãnh đạo của 21 trường đại học Mỹ đã sang Việt Nam khảo sát nhằm thiết lập các mối quan hệ hợp tác mới, đồng thời tăng cường hợp tác học thuật với các đối tác Việt Nam.


Ảnh: Viện Giáo dục quốc tế Hoa Kỳ (IIE)
Hợp tác đã được triển khai thông qua các trường đại học và doanh nghiệp cụ thể. Đại học Bang Arizona, Đại học Purdue và Đại học Bang Portland tham gia hỗ trợ các cơ sở giáo dục Việt Nam xây dựng chương trình đào tạo công nghệ cao, trong đó có bán dẫn.
Năm 2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục mở rộng hợp tác với các đối tác Mỹ trong những lĩnh vực mới. Tháng 1, Bộ ký MOU với Qualcomm về chuyển đổi số và AI, trong đó có hỗ trợ phòng thí nghiệm Edge AI tại Đại học Bách khoa Hà Nội và hợp tác nghiên cứu với một số trường đại học Việt Nam. Tháng 3, lãnh đạo Bộ làm việc với Viện Khảo thí Giáo dục Hoa Kỳ (ETS) về khảo thí, đánh giá năng lực tiếng Anh và các chứng chỉ quốc tế.


Ảnh: Bộ GD-ĐT
Ở cấp phổ thông, chương trình Peace Corps về giảng dạy tiếng Anh cũng tiếp tục được triển khai. Thỏa thuận thực thi chương trình được gia hạn năm 2025; đến nay Việt Nam đã tiếp nhận 38 tình nguyện viên làm việc tại 30 trường THPT ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ lớp học đến hệ sinh thái AI, bán dẫn
và đổi mới sáng tạo
Đáng chú ý, từ khi Việt Nam và Hoa Kỳ xác lập quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện năm 2023, giáo dục được đặt trong mối liên hệ ngày càng rõ với khoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực.
Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ hai nước xác định Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ Việt Nam đào tạo lực lượng lao động chất lượng cao; hai bên khuyến khích các trường đại học và phòng thí nghiệm mở rộng hợp tác, thúc đẩy nghiên cứu chung, các khóa đào tạo, học bổng và chương trình trao đổi, đặc biệt trong các lĩnh vực STEM. Hai nước đồng thời nhấn mạnh nhu cầu gia tăng cơ hội để sinh viên, giảng viên, học giả và nhà nghiên cứu Việt Nam tham gia các chương trình đào tạo tại Hoa Kỳ.
Như vậy, giáo dục không đứng riêng trong cấu trúc hợp tác Việt Nam - Hoa Kỳ, mà ngày càng trở thành một mắt xích kết nối giáo dục đại học với khoa học - công nghệ, doanh nghiệp và thị trường lao động.

Một ví dụ rõ nét là hợp tác trong lĩnh vực bán dẫn. Trong khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện, Hoa Kỳ và Việt Nam đã triển khai các sáng kiến phát triển nguồn nhân lực bán dẫn, với khoản tài trợ ban đầu 2 triệu USD từ phía Hoa Kỳ dành cho phát triển lực lượng lao động trong lĩnh vực này. Hai nước cũng thúc đẩy các chương trình giáo dục và đào tạo STEM.
Tại Việt Nam, nhu cầu này ngày càng rõ khi bán dẫn được xác định là một trong các nhóm công nghệ chiến lược. Chính phủ đặt mục tiêu đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn đến năm 2030.

Ở cấp độ chương trình đào tạo, những mô hình kết nối mới đang xuất hiện. Ngay trong tháng 9 này, Đại học Fulbright Việt Nam và Đại học American tại Washington D.C. công bố chương trình liên thông 4+1, cho phép sinh viên ngành Kinh tế kết nối chương trình cử nhân với đào tạo thạc sĩ. Đây là một ví dụ về xu hướng đưa hợp tác đại học Việt Nam - Hoa Kỳ từ trao đổi đơn thuần sang thiết kế các chương trình đào tạo chung, tạo lộ trình học tập xuyên biên giới.

Mở ra chương hợp tác mới
Những con số và các chương trình cho thấy hợp tác giáo dục Việt Nam - Hoa Kỳ đã và đang hình thành nhiều tầng liên kết: từ trao đổi học sinh, sinh viên và giảng viên; liên kết đào tạo; nâng cao năng lực khảo thí, kiểm định; đến đào tạo STEM, bán dẫn, AI và nghiên cứu đổi mới sáng tạo. Đây là nền tảng quan trọng để những gợi mở hợp tác mới của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có thể đi xa hơn việc trao đổi học thuật truyền thống.

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn đẩy mạnh khoa học - công nghệ, AI, bán dẫn và đổi mới sáng tạo, giá trị của hợp tác giáo dục ngày càng được đo bằng khả năng tạo ra nguồn nhân lực có năng lực sáng tạo, nghiên cứu và dẫn dắt. Từ cuộc gặp với các chuyên gia, trí thức người Việt tại Hoa Kỳ đến cuộc làm việc với lãnh đạo Trường Kinh doanh Stanford của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, các kết nối được mở ra theo nhiều hướng: kết nối con người với tri thức, các trường đại học với doanh nghiệp và Việt Nam với những mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu.
Những kết nối này, khi được cụ thể hóa thành các chương trình đào tạo, nghiên cứu và đồng sáng tạo, sẽ góp phần đưa hợp tác giáo dục Việt Nam - Hoa Kỳ từ mở rộng cơ hội học tập sang cùng tạo dựng nguồn lực cho tương lai, mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai nước.