Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mớiBài 1: Nhìn thẳng vào nghịch lý để khơi thông tiềm năng
Sau gần một thập kỷ thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, du lịch Việt Nam đã khởi sắc đáng kể, từng bước định vị thương hiệu trên bản đồ toàn cầu. So sánh với lợi thế sẵn có, ngành "công nghiệp không khói" vẫn đang phải khoác lên mình chiếc áo cơ chế chật hẹp, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và đối mặt với những nghịch lý nội tại. Muốn khơi thông nguồn lực để bước vào kỷ nguyên mới, việc đầu tiên là phải nhìn thẳng vào thực trạng, mổ xẻ những điểm nghẽn cốt lõi.
Bứt phá vĩ mô và những dấu ấn không thể phủ nhận
Nhìn lại chặng đường từ khi có Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị đến nay, diện mạo của ngành du lịch Việt Nam đã có sự tăng trưởng đáng ghi nhận về cả lượng và chất. Năm 2025 có thể xem là một dấu mốc đáng nhớ khi Việt Nam đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế, khoảng 137 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ khách du lịch trên một triệu tỷ đồng (tăng khoảng 19% so với năm trước) - những con số cho thấy du lịch đã thực sự bước vào nhóm những ngành kinh tế có sức lan tỏa lớn.
.jpg)
Nhưng thành tựu lớn nhất là sự chuyển biến trong nhận thức của toàn hệ thống chính trị và xã hội. Sau gần một thập niên, nhận thức về vị trí của du lịch đã thay đổi, hệ thống cơ sở vật chất được đầu tư, sản phẩm ngày càng đa dạng, công tác xúc tiến, quảng bá và chuyển đổi số có bước tiến, nhiều địa phương đã đưa du lịch trở thành một trong những động lực quan trọng của phát triển kinh tế. Về mặt vĩ mô, du lịch đã chứng minh vai trò là bệ đỡ kinh tế quan trọng. Ngành không chỉ đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng GDP mà còn thúc đẩy tiêu dùng, mở rộng thị trường dịch vụ và đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững.
Nhưng chính khi những con số tăng trưởng đạt tới một tầm vóc mới, câu hỏi về chất lượng tăng trưởng lại trở nên cấp thiết. Bởi, một ngành du lịch mạnh không thể chỉ được đo bằng số lượt khách qua cửa khẩu, số phòng khách sạn được lấp đầy hay doanh thu của một mùa cao điểm. Điều quan trọng hơn là mỗi du khách ở lại bao lâu, chi tiêu bao nhiêu, sử dụng những dịch vụ gì, quay trở lại thế nào và bao nhiêu giá trị thực sự được giữ lại trong nền kinh tế Việt Nam. Cuộc cạnh tranh du lịch vì thế không còn đơn thuần là cuộc đua về số lượng. Đó là cuộc đua về thời gian lưu trú, mức chi tiêu, chất lượng trải nghiệm và khả năng tạo ra giá trị gia tăng.
Khoảng trống phía sau tăng trưởng
Nghị quyết số 26-NQ/TW đã chỉ rõ: “Du lịch phát triển chưa thực sự bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển của đất nước”. Đáng nói, những hạn chế ấy phần lớn không bắt nguồn từ việc Việt Nam thiếu tài nguyên, nhưng khả năng chuyển hóa tài nguyên thành sản phẩm và giá trị kinh tế còn chưa tương xứng. Không ít địa phương cùng khai thác biển, cùng làm nghỉ dưỡng, cùng phát triển homestay, phố đi bộ, chợ đêm, du lịch cộng đồng… nhưng chưa tạo được sản phẩm đủ khác biệt để trở thành lý do riêng khiến du khách phải đến và ở lại.
Nghịch lý lớn nhất của du lịch Việt Nam bấy lâu nay là tình trạng chạy theo số lượng khách đơn thuần mà bỏ quên chất lượng trải nghiệm. Chúng ta từng tự hào với những biểu đồ tăng trưởng lượng khách tăng vọt, nhưng lại lúng túng khi nhìn vào con số chi tiêu bình quân và tỷ lệ khách quay trở lại thấp. Sản phẩm du lịch còn thiếu chiều sâu, thiếu sức sáng tạo, có xu hướng rập khuôn, trùng lặp giữa các địa phương. Đi đến đâu cũng bắt gặp những mô hình kinh doanh giống nhau, thiếu hẳn các sản phẩm độc bản, giàu hàm lượng văn hóa để giữ chân khách dài ngày và kích thích họ mở hầu bao.
Những “mỏ vàng” chưa được khai thác hết
Việt Nam được tạo hóa ưu ái ban tặng những kỳ quan thiên nhiên thế giới, những bãi biển thuộc top đẹp nhất hành tinh, cùng với một kho tàng văn hóa đồ sộ của 54 dân tộc anh em. Thế nhưng, hiệu quả kinh tế thu về từ "mỏ vàng" này lại vô cùng khiêm tốn khi đặt cạnh các quốc gia lân cận. Bởi vậy, có thể nói một cách thẳng thắn: Việt Nam có nhiều điểm đến nhưng chưa có đủ sản phẩm điểm đến; có nhiều tài nguyên nhưng chưa tạo được đủ giá trị từ tài nguyên. Khoảng cách này chính là dư địa lớn nhất để du lịch bứt phá trong giai đoạn tới.
Điều đáng tiếc nhất không phải Việt Nam thiếu sản phẩm, mà là nhiều sản phẩm tiềm năng vẫn đang được khai thác ở tầng thấp. Những tài nguyên, nguồn lực sẵn có tự thân không tạo ra giá trị kinh tế cao nếu thiếu tổ chức, sáng tạo, hạ tầng và thị trường. Đối với du lịch biển chẳng hạn, không nên chỉ hiểu là nghỉ dưỡng trên bãi biển. Dư địa còn rất lớn ở du lịch du thuyền, thể thao biển, lặn biển, câu cá, nghỉ dưỡng chăm sóc sức khỏe, các sự kiện quốc tế và kinh tế ven biển... Du lịch sinh thái, nông nghiệp, cộng đồng, chăm sóc sức khỏe, golf, MICE, đường sắt, đường thủy và kinh tế đêm cũng đang mở ra những không gian tăng trưởng mới. Đây là những lĩnh vực có khả năng kéo dài thời gian lưu trú và mở rộng đáng kể mức chi tiêu của du khách nếu được đầu tư bài bản.
Nhưng “mỏ vàng” lớn nhất có lẽ vẫn là VĂN HÓA. Một di sản nếu chỉ dừng ở vé tham quan sẽ tạo ra một dòng doanh thu hữu hạn. Nhưng nếu di sản được kết nối với nghệ thuật biểu diễn, ẩm thực, mua sắm, bảo tàng số, điện ảnh, thời trang, lễ hội và kinh tế đêm, giá trị kinh tế có thể được mở rộng nhiều lần.
Đây cũng là lý do yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng của du lịch trở nên cấp thiết. Nghị quyết số 26-NQ/TW được ban hành chính trong bối cảnh ấy. Nếu Nghị quyết số 08-NQ/TW đã đưa du lịch vào vị trí ngành kinh tế mũi nhọn, thì yêu cầu của giai đoạn mới là làm thế nào để ngành kinh tế mũi nhọn ấy tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, lan tỏa mạnh hơn và cạnh tranh tốt hơn. Câu trả lời bắt đầu từ một sự thay đổi trong tư duy: từ khai thác cái có sẵn sang kiến tạo giá trị mới.