Xây dựng hạ tầng định danh của cả nền kinh tế số
Chiều 23/9, tiếp tục chương trình Phiên họp thứ 6, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Định danh và xác thực điện tử.

Mở rộng đối tượng định danh điện tử sang thực thể vật chất và đối tượng phi vật chất
Trình bày Tờ trình dự án Luật, Thứ trưởng Bộ Công an Phạm Thế Tùng cho biết, việc ban hành luật nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý đầy đủ, thống nhất và có hiệu lực pháp lý cao về định danh và xác thực điện tử, làm cơ sở cho việc tạo lập quản lý sử dụng danh tính điện tử trong các hoạt động quản lý nhà nước, giao dịch điện tử và phát triển kinh tế số, xã hội số.

Về quan điểm xây dựng dự án Luật, Thứ trưởng Bộ Công an nêu rõ, bảo đảm thực hiện đúng các chủ trương của Đảng, Nhà nước, tuân thủ hiến pháp. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, tập trung rà soát, sửa đổi các quy định là nguyên nhân của những vướng mắc bất cập lớn là điểm nghẽn cần phải tháo gỡ trong thực hiện, triển khai định danh và xác thực điện tử, quán triệt tinh thần kiến tạo phát triển theo Nghị quyết 57 và Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị.

Dự án Luật hướng tới cắt giảm chi phí giao dịch, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp, tạo không gian linh hoạt cho đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế số, xã hội số.
Dự thảo Luật gồm 8 chương, 46 điều, tập trung vào 6 nhóm nội dung cơ bản: về định danh và danh tính điện tử; về xác thực điện tử; về hệ thống định danh và xác thực điện tử; về dịch vụ định danh, xác thực điện tử và thủ tục hành chính; về liên thông, hợp tác quốc tế, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; về sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan và điều khoản chuyển tiếp.
Trình bày Báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Lê Tấn Tới cho biết, Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật với các lý do đã nêu trong Tờ trình của Chính phủ.

Nội dung dự thảo Luật phù hợp với Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), cơ bản bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan và bảo đảm tính khả thi. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị tiếp tục rà soát kỹ quy định về thu thập, lưu trữ, xác thực dữ liệu sinh trắc học để bảo đảm không xâm phạm quyền riêng tư; rà soát với các Hiệp định thương mại tự do về dòng chảy dữ liệu tự do và công nhận danh tính nước ngoài; đánh giá kỹ tính khả thi về hạ tầng công nghệ, tài chính và nguồn nhân lực khi áp dụng định danh đối với các thực thể vật chất và đối tượng phi vật chất.
Về tên gọi, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại cơ bản nhất trí với tên gọi, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị bổ sung một điều quy định về nguyên tắc áp dụng pháp luật để phân định rõ ranh giới với các luật chuyên ngành (Luật Căn cước, Luật Giao dịch điện tử, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân...).

Về đối tượng định danh điện tử (Điều 7), Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại cơ bản nhất trí với đối tượng định danh điện tử tại Điều 7 và thấy rằng quy định mở rộng đối tượng định danh điện tử sang thực thể vật chất và đối tượng phi vật chất là phù hợp xu thế.
Có ý kiến cho rằng, phạm vi đối tượng định danh điện tử tại Điều 7 quá rộng; đề nghị thu hẹp hoặc phân định rõ danh mục bắt buộc và danh mục khuyến khích; cân nhắc tính khả thi khi định danh các đối tượng phi vật chất phức tạp (tệp dữ liệu, ứng dụng, sự kiện, hành vi); đánh giá kỹ nguy cơ lộ lọt thông tin đối với đối tượng định danh thuộc bí mật nhà nước và áp lực lên hạ tầng xử lý dữ liệu lớn.

Mức độ xác thực phải đi cùng nguyên tắc tối thiểu hóa dữ liệu
Cho ý kiến về nội dung này, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, dự thảo Luật thể hiện bước chuyển quan trọng từ định danh con người sang xây dựng hạ tầng định danh của cả nền kinh tế số.
Chủ tịch Quốc hội lưu ý, cần phân biệt định danh với xác nhận quyền/chất lượng. Cụ thể, mã định danh chỉ trả lời câu hỏi đối tượng nào được nói tới, không mặc nhiên xác nhận ai là chủ sở hữu, hàng hóa có đạt chuẩn hay tài sản có đủ điều kiện giao dịch hay không.

Chủ tịch Quốc hội chỉ rõ, việc cấp mã định danh cho một sản phẩm không thay thế chứng nhận chất lượng của sản phẩm. Mã định danh cho một thửa đất không xác nhận quyền sử dụng đất. Mã định danh cho một tệp dữ liệu không làm phát sinh quyền sở hữu trí tuệ...
Do đó, quy định nguyên tắc là danh tính điện tử, mã định danh có giá trị xác định phân biệt liên kết đúng đối tượng; còn quyền sở hữu, tình trạng pháp lý, chất lượng, điều kiện giao dịch tiếp tục được xác định theo pháp luật chuyên ngành.
Chủ tịch Quốc hội cũng lưu ý, mức độ xác thực phải đi cùng nguyên tắc tối thiểu hóa dữ liệu tại Điều 11 và Điều 13 dự thảo Luật. Việc cho phép sử dụng dịch vụ lựa chọn độ xác thực phù hợp với giao dịch là đúng, nhưng nếu không giới hạn thông tin được yêu cầu sẽ hình thành xu hướng xác thực quá mức.

Chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị làm rõ trách nhiệm pháp lý khi xác thực sai. Xác thực chỉ chứng minh độ tin cậy của danh tính, không tự chứng minh ý chí tự nguyện hay tính hợp pháp của nội dung giao dịch.
Kết luận nội dung này, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đề nghị, Chính phủ chỉ đạo cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu bổ sung nguyên tắc áp dụng pháp luật để phân định ranh giới với các luật chuyên ngành; phân định danh mục đối tượng định danh bắt buộc và khuyến khích; đồng thời, giao Chính phủ quy định lộ trình phù hợp với hạ tầng Bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Cùng với đó, cần quy định chặt chẽ việc thu thập dữ liệu sinh trắc học (ADN, giọng nói, khuôn mặt); áp dụng nguyên tắc thu thập tối thiểu; phân định minh bạch quyền sở hữu và quyền quản lý, sử dụng.

Về thẩm quyền và trách nhiệm, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị, rà soát quy định rõ ràng trong luật thẩm quyền, căn cứ thời hạn tạm dừng, hủy bỏ danh tính điện tử, bổ sung cơ chế xử lý khẩn cấp khi có nguy cơ đe dọa an toàn hệ thống; quy định rõ trách nhiệm pháp lý và cơ chế bồi thường thiệt hại của tổ chức cung cấp dịch vụ khi để xảy ra sự cố lừa đảo, giả mạo sinh trắc học, lộ lọt dữ liệu hoặc sai sót gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân...