Bảo đảm cơ hội học tập cho học sinh vùng cao Lào Cai
Từ những bữa ăn bán trú đến những ngôi trường mới nơi biên giới, các chính sách hỗ trợ đang từng bước cải thiện điều kiện học tập cho học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), miền núi Lào Cai... Tuy nhiên, những vấn đề cử tri ngành Giáo dục phản ánh với Đoàn ĐBQH tỉnh cho thấy, sau sắp xếp mạng lưới trường lớp, vẫn còn khó khăn về đội ngũ, chính sách bán trú và cơ sở vật chất cần tiếp tục tháo gỡ.
Thêm điều kiện để học sinh bám trường, bám lớp
Ở những địa bàn miền núi, biên giới của Lào Cai, con đường đến trường của nhiều học sinh không chỉ được tính bằng khoảng cách địa lý. Với những em nhà xa, bữa ăn, chỗ ở bán trú và điều kiện sinh hoạt là những yếu tố thiết thực để bám trường, bám lớp.
Mỏ Vàng là một lát cắt cho thấy khá rõ điều đó. Trước khi tiếp tục tổ chức lại mạng lưới trường học vào cuối tháng 8, toàn xã có 6 cơ sở giáo dục với 2.409 trẻ em, học sinh; trong đó 1.026 học sinh bán trú và 1.151 học sinh thuộc diện hưởng các chế độ hỗ trợ.

Năm học 2025 - 2026, tổng kinh phí thực hiện chính sách theo Nghị định số 66/2025/NĐ-CP trên địa bàn đạt hơn 9 tỷ đồng, riêng hỗ trợ tiền ăn hơn 8,2 tỷ đồng. Ngoài ra còn có các khoản hỗ trợ điện, nước, khám sức khỏe định kỳ, thiết bị học tập, tổ chức nấu ăn và quản lý học sinh bán trú ngoài giờ lên lớp.
Nguồn lực từ địa phương được bổ sung thông qua Nghị quyết số 28/2025/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2030. Riêng Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học Mỏ Vàng có 151 học sinh được hỗ trợ học 2 buổi/ngày trong năm 2026, với tổng kinh phí hơn 95 triệu đồng.
Qua giám sát của Ban Dân tộc HĐND tỉnh, các chính sách hỗ trợ đã góp phần nâng tỷ lệ chuyên cần, giảm tình trạng bỏ học, cải thiện bữa ăn và điều kiện sinh hoạt cho học sinh bán trú. Tuy vậy, địa phương cũng phản ánh một số mức hỗ trợ chưa phù hợp với giá cả vùng cao, cơ sở vật chất còn thiếu, có thời điểm kinh phí được cấp chưa kịp thời.
Đến cuối tháng 8, mạng lưới trường học ở Mỏ Vàng tiếp tục được tổ chức lại. Từ 6 trường trước đó, địa phương thành lập 3 trường trên cơ sở sáp nhập các đơn vị cùng địa bàn... Trong đó, các trường tiểu học và THCS tại Mỏ Vàng, An Lương được tổ chức thành hai trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp.

Cùng với ổn định tổ chức, địa phương đặt yêu cầu duy trì nền nếp dạy và học, không để việc sắp xếp ảnh hưởng đến quyền lợi và chất lượng học tập của học sinh... Với hai trường phổ thông dân tộc bán trú, công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý học sinh tiếp tục được chú trọng, gắn với huy động học sinh ra lớp, duy trì sĩ số và hạn chế bỏ học.
Cùng với hỗ trợ trực tiếp cho người học, cơ sở vật chất giáo dục vùng biên được tăng cường. Bước vào năm học 2026 - 2027, 4 trường phổ thông nội trú liên cấp tại Mường Khương, Pha Long, Y Tý và A Mú Sung được đưa vào sử dụng. Riêng Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Mường Khương có quy mô 28 lớp với 980 học sinh.
Từ bữa ăn bán trú đến những ngôi trường mới, nguồn lực đầu tư đang tạo thêm điểm tựa cho học sinh vùng cao, biên giới. Nhưng trường lớp mới chỉ là một phần của bài toán. Để cơ hội học tập được duy trì bền vững, còn cần đủ người đứng lớp và chính sách phù hợp với những thay đổi của mạng lưới trường học.
Để chính sách theo kịp thực tiễn vùng cao
Bên cạnh những chuyển biến về trường lớp, bài toán về đội ngũ và điều kiện dạy học vẫn hiện hữu ở nhiều địa bàn.
Qua khảo sát của Ủy ban Văn hóa và Xã hội tại xã Mậu A hồi tháng 7, địa phương có 13 cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập, 100% trường đạt chuẩn quốc gia; 247 phòng học đều được kiên cố hóa, không còn phòng học tạm. Tuy nhiên, nhân lực và trang thiết bị phục vụ những yêu cầu mới trong giáo dục vẫn còn thiếu.

.jpg)
Riêng môn tiếng Anh, Mậu A có 21 giáo viên nhưng còn thiếu 4 giáo viên tại 4 trường. Các cơ sở giáo dục thiếu phòng học chuyên dụng ngoại ngữ, máy tính cho học sinh, thiết bị nghe, nhìn, trình chiếu; khả năng nghe, nói tiếng Anh của một bộ phận giáo viên còn hạn chế. Địa phương kiến nghị hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, thu hút giáo viên, nhất là giáo viên tiếng Anh; tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị và bồi dưỡng đội ngũ.
Từ một địa bàn cụ thể, bài toán nhân lực tiếp tục được đặt ra ở quy mô toàn tỉnh. Tại cuộc TXCT chuyên đề của Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai với cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên ngành Giáo dục và Đào tạo mới đây (ngày 17/9), nhiều ý kiến tập trung vào tổ chức, quản trị nhà trường sau sắp xếp; biên chế, tuyển dụng và quyền lợi của nhà giáo; chính sách bán trú, hỗ trợ học sinh; cơ sở vật chất và thiết bị dạy học.

Theo báo cáo của Giám đốc Sở GD&ĐT Lào Cai Luyện Hữu Chung tại cuộc TXCT, toàn ngành hiện có 30.677 cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, đạt 93,8% biên chế được giao và 85,8% so với định mức. Toàn ngành còn thiếu 2.034 người so với biên chế được giao, trong đó có 1.386 giáo viên và 537 nhân viên.
Tình trạng thiếu giáo viên tập trung ở một số môn như Ngoại ngữ, Tin học và tại các địa bàn vùng cao, khó khăn... Từ câu chuyện thiếu giáo viên tiếng Anh ở Mậu A đến số liệu toàn ngành cho thấy, đủ người đứng lớp vẫn là một trong những điều kiện quan trọng để bảo đảm cơ hội học tập ở những địa bàn khó khăn.
Cùng với đội ngũ, chính sách bán trú là vấn đề liên quan trực tiếp đến học sinh vùng cao. Cử tri phản ánh, sau sắp xếp, tên gọi và loại hình một số trường đã thay đổi nhưng nhu cầu ở bán trú của học sinh, trách nhiệm chăm sóc, quản lý và điều kiện ăn, ở thực tế không thay đổi. Theo cử tri, nếu chính sách chỉ đi theo tên gọi của mô hình trường mà không theo nhu cầu thực tế của người học sẽ tạo ra khoảng trống.
Tại Mỏ Vàng, sau sắp xếp, hai trường liên cấp vẫn duy trì loại hình phổ thông dân tộc bán trú. Trong khi đó, ở những địa bàn loại hình trường thay đổi nhưng học sinh vẫn phải ở lại vì nhà xa, chính sách hỗ trợ cần bám sát nhu cầu của người học, tránh để thay đổi về tổ chức ảnh hưởng đến điều kiện học tập.
Cơ sở vật chất cũng được cử tri quan tâm, từ phòng học, phòng bộ môn, thư viện, nhà vệ sinh, sân chơi đến thiết bị Tin học, Ngoại ngữ và hạ tầng công nghệ thông tin. Đây là những điều kiện cần tiếp tục được củng cố, nhất là tại các cơ sở còn khó khăn, xuống cấp và trường sau sắp xếp.
Từ những phản ánh tại cơ sở có thể thấy, việc học ở vùng cao phụ thuộc vào nhiều yếu tố gắn kết: trường lớp cần đi cùng đội ngũ; học sinh nhà xa cần điều kiện ăn, ở; chính sách hỗ trợ cần theo sát nhu cầu thực tế của người học.

Tiếp thu ý kiến cử tri, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Giàng Quốc Hưng cho biết, những vấn đề thuộc thẩm quyền của tỉnh sẽ được chỉ đạo giải quyết; các nội dung liên quan đến cơ chế, chính sách, nguồn lực sẽ được rà soát cụ thể về đối tượng, nhu cầu, kinh phí và lộ trình. Quan điểm của tỉnh là không để việc sắp xếp tổ chức bộ máy, trường lớp trở thành rào cản đối với việc học tập của học sinh, điều kiện công tác của giáo viên và chất lượng giáo dục.
Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai Giàng Thị Dung đề nghị UBND tỉnh khẩn trương chỉ đạo các sở, ngành, địa phương xử lý những vấn đề thuộc thẩm quyền. Bà nhấn mạnh, vấn đề đặt ra không chỉ là tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách mà quan trọng hơn là tổ chức thực hiện kịp thời, đồng bộ, sát thực tiễn sau sắp xếp mạng lưới trường học, sau phân cấp, phân quyền và ngay từ những tuần đầu của năm học mới. Những kiến nghị thuộc thẩm quyền Trung ương sẽ được Đoàn ĐBQH tỉnh tiếp tục phản ánh tới Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành liên quan xem xét, giải quyết.
Nhìn từ những vấn đề cử tri phản ánh, quyền tiếp cận giáo dục của trẻ em vùng đồng bào DTTS và miền núi không chỉ gắn với trường, lớp mà còn phụ thuộc vào những điều kiện thiết yếu để các em học tập ổn định: có giáo viên đứng lớp, có nơi ăn, ở khi nhà xa trường và được thụ hưởng chính sách phù hợp.
Từ Mỏ Vàng, Mậu A đến các xã biên giới, nguồn lực dành cho giáo dục vùng cao Lào Cai đang được cụ thể hóa bằng hỗ trợ trực tiếp cho người học và đầu tư trường lớp. Cùng với kết quả đạt được, những vấn đề đặt ra từ cơ sở cũng cho thấy yêu cầu tiếp tục tháo gỡ điểm nghẽn về đội ngũ, điều kiện dạy học và chính sách bán trú, góp phần bảo đảm cơ hội học tập cho trẻ em vùng đồng bào DTTS, miền núi.