Văn hóa - Thể thao

Nhân lực sáng tạo - “Hạ tầng mềm” của công nghiệp văn hóa

PGS. TS. Bùi Hoài Sơn 18/09/2026 06:59

Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm, đóng góp 7% GDP. Muốn đạt được mục tiêu ấy, chúng ta cần một lực lượng lao động sáng tạo đủ năng lực biến giá trị văn hóa thành sản phẩm, tài sản trí tuệ và giá trị kinh tế. Nhân lực, vì thế, phải được nhìn như “hạ tầng mềm” của công nghiệp văn hóa.

Không thể có công nghiệp văn hóa mạnh nếu thiếu lực lượng lao động sáng tạo mạnh

Với công nghiệp văn hóa, nguồn lực quyết định nằm ở con người. Một bộ phim có thể cần trường quay, thiết bị và vốn đầu tư, nhưng giá trị khác biệt cuối cùng vẫn được tạo ra bởi kịch bản, đạo diễn, diễn viên, nhà sản xuất, chuyên gia kỹ xảo, âm nhạc, bản quyền, marketing và phân phối. Một trò chơi điện tử có thể cần máy chủ và công nghệ, nhưng linh hồn của sản phẩm vẫn là câu chuyện, mỹ thuật, âm thanh, thiết kế trải nghiệm và khả năng hiểu thị trường. Một sản phẩm thủ công muốn đi xa cũng cần nghệ nhân, nhà thiết kế, chuyên gia thương hiệu, thương mại điện tử và người kể câu chuyện sản phẩm.

Phát triển công nghiệp văn hóa vì thế không thể chỉ hiểu là đào tạo thêm nghệ sĩ. Thị trường hôm nay cần cả người sáng tạo nội dung, nhà sản xuất, chuyên gia sở hữu trí tuệ, quản trị dự án, dữ liệu, lập trình, thiết kế, marketing, phân phối và xuất khẩu. Nhiều vị trí nằm ở giao điểm của văn hóa với công nghệ và kinh doanh, trong khi đào tạo truyền thống vẫn thường chia theo ngành khá cứng.

Nhân lực của công nghiệp văn hóa
Phía sau mỗi sản phẩm văn hóa nghệ thuật, không chỉ có nghệ sĩ trên sâu khấu mà còn có lực lượng nhân lực sáng tạo đông đảo. Ảnh: Phạm Thắng

Những nền kinh tế nội dung mạnh đều rất chú ý tới lực lượng lao động trẻ và khả năng cập nhật kỹ năng. Cơ quan Nội dung sáng tạo Hàn Quốc cho biết, tỷ lệ lao động dưới 40 tuổi trong ngành nội dung nước này khoảng 78,3%. Riêng Seoul, khảo sát năm 2024 ghi nhận 7.782 cơ sở hoạt động và hơn 144 nghìn lao động. Đằng sau K-pop, phim, game hay webtoon là cả một hệ thống nhân lực sáng tạo, kỹ thuật, quản trị và thương mại hóa.

Đây chính là lý do Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa dành một chương riêng cho nhân lực công nghiệp văn hóa. Các quy định về khung năng lực, phát huy nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia tham gia đào tạo, hỗ trợ ngành nghề ưu tiên và thu hút nhân lực chất lượng cao cho thấy cách tiếp cận đã rộng hơn tư duy đào tạo văn hóa, nghệ thuật theo nghĩa truyền thống. Vấn đề còn lại là làm sao để những cơ chế này thực sự kéo hệ thống đào tạo lại gần thị trường mà không làm giảm chuẩn nghề nghiệp và chất lượng giáo dục.

Điểm rất đáng chú ý trong dự thảo Luật là việc xây dựng khung năng lực trong các ngành công nghiệp văn hóa theo vị trí việc làm, đồng thời liên kết với Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Đây là hướng đúng, bởi công nghiệp văn hóa thay đổi rất nhanh; nhiều kỹ năng mới xuất hiện trước khi hệ thống ngành, nghề đào tạo chính thức kịp cập nhật.

Ví dụ, một nhà sản xuất nội dung số hôm nay không chỉ cần biết sáng tạo nội dung mà còn phải hiểu dữ liệu người dùng, bản quyền, nền tảng phân phối và mô hình kiếm tiền. Một nhà thiết kế thời trang muốn phát triển thương hiệu phải hiểu chuỗi cung ứng, thương mại điện tử, sở hữu trí tuệ và truyền thông số. Một người làm phim phải ngày càng hiểu công nghệ hậu kỳ, hiệu ứng số, AI và khai thác quyền trên nhiều nền tảng. Do đó, nếu chương trình đào tạo vẫn đóng trong biên giới của từng ngành, người học rất dễ thiếu những năng lực giao thoa mà thị trường cần.

Báo cáo năm 2026 của UNESCO về kỹ năng và việc làm trong các ngành văn hóa và sáng tạo nhấn mạnh đào tạo linh hoạt, chứng chỉ ngắn hạn, học tập liên thế hệ và hợp tác công - tư. Đây là gợi ý phù hợp với Việt Nam: không phải kỹ năng nào cũng cần một chương trình đại học bốn năm; nhiều năng lực về nội dung số, bản quyền, thiết kế, quản trị dự án hay thương mại hóa có thể được cập nhật qua khóa ngắn hạn hoặc đào tạo tại doanh nghiệp.

Ở đây, nghệ sĩ, nghệ nhân và chuyên gia thực hành phải được coi là một nguồn lực đào tạo đặc biệt. Có những kỹ năng nghề không thể truyền đạt đầy đủ chỉ bằng sách giáo khoa. Kỹ thuật biểu diễn, nghề thủ công, kinh nghiệm sản xuất phim, vận hành sân khấu, thiết kế âm thanh hay xử lý chất liệu truyền thống cần sự truyền nghề trực tiếp từ người có kinh nghiệm thực tiễn.

Dự thảo Luật mở đường để Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, người thực hành di sản và chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy. Tuy nhiên, cần cách tiếp cận thận trọng, không nên làm mờ chuẩn nghề nghiệp của nhà giáo, hay “hợp thức hóa” tỷ lệ giảng viên cơ hữu bằng kỹ thuật quy đổi.

Thu hút, giữ người tài bằng hệ sinh thái nghề nghiệp

Dự thảo Luật đề xuất nhiều chính sách thu hút, trọng dụng nhân lực công nghiệp văn hóa chất lượng cao và nhân tài, trong đó có cơ chế về cư trú, thuế, tiền lương, nhà ở, môi trường làm việc, hợp tác quốc tế và hỗ trợ nghiên cứu - phát triển. Đây là một hướng cần thiết, bởi cạnh tranh trong công nghiệp văn hóa cũng là cạnh tranh giành người giỏi.

Một đạo diễn, nhà sản xuất, chuyên gia game, thiết kế hay kỹ xảo giỏi có thể làm việc ở nhiều thị trường. Người Việt Nam ở nước ngoài cũng có thể lựa chọn nơi có môi trường sáng tạo thuận lợi hơn. Vì vậy, nếu muốn hình thành những trung tâm sản xuất nội dung, phim, game, thiết kế có tầm khu vực, Việt Nam cần cơ chế đủ hấp dẫn để thu hút cả nhân lực trong nước, kiều bào và chuyên gia quốc tế.

Nhưng ưu đãi thuế hay lương cao chỉ giải quyết được một phần. Người tài ở lại khi họ nhìn thấy cơ hội làm nghề lâu dài: có dự án tốt, đồng nghiệp giỏi, không gian thử nghiệm, quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ, thủ tục thuận lợi, khả năng huy động vốn và thị trường đủ lớn. Nói cách khác, muốn giữ người tài phải xây được một hệ sinh thái nghề nghiệp.

Điều này đòi hỏi chính sách nhân lực phải đi cùng chính sách phát triển doanh nghiệp, tài sản trí tuệ, hạ tầng, cụm sáng tạo và thị trường. Không thể đào tạo hàng nghìn người làm phim nếu thị trường sản xuất không đủ lớn. Không thể khuyến khích người trẻ học thiết kế nếu doanh nghiệp không coi thiết kế là tài sản tạo giá trị. Không thể kỳ vọng nghệ nhân trẻ tiếp nối nghề truyền thống nếu thu nhập và vị thế nghề nghiệp quá thấp…

Luật phải chú ý đến lao động sáng tạo độc lập. Rất nhiều người làm trong âm nhạc, thiết kế, nhiếp ảnh, nội dung số, biểu diễn, game hay nghệ thuật thị giác không làm việc theo mô hình biên chế hoặc hợp đồng dài hạn. Họ có thể cùng lúc làm cho nhiều dự án, nhiều nền tảng và nhiều thị trường. Vì vậy, bên cạnh đào tạo và thu hút nhân tài, cần quan tâm đến điều kiện lao động, quyền lợi hợp đồng, bản quyền, bảo hiểm và khả năng tiếp cận dịch vụ nghề nghiệp của người sáng tạo độc lập.

Triết lý chính sách nhân lực nên quy định rõ ràng: Nhà nước không quyết định ai sẽ trở thành nghệ sĩ lớn hay sản phẩm nào sẽ thành công; Nhà nước tạo điều kiện để tài năng được phát hiện, kỹ năng được nâng cấp, quyền lợi được bảo vệ và người giỏi có cơ hội làm nghề. Doanh nghiệp và thị trường sẽ là nơi kiểm nghiệm năng lực; cơ sở đào tạo là nơi chuẩn bị nền tảng; còn Nhà nước bảo đảm một môi trường công bằng và những hạ tầng mà thị trường chưa tự cung cấp đủ.

Nếu coi công trình, nền tảng số và dữ liệu là hạ tầng cứng của công nghiệp văn hóa, thì con người chính là hạ tầng mềm. Hạ tầng cứng có thể xây trong vài năm; một thế hệ nhân lực sáng tạo cần nhiều năm để hình thành. Luật Phát triển công nghiệp văn hóa vì thế phải nhìn xa hơn, tạo ra cơ chế để tài năng được nuôi dưỡng, kỹ năng được cập nhật và sáng tạo trở thành một nghề nghiệp có tương lai. Đó mới là nguồn lực bền vững nhất để công nghiệp văn hóa Việt Nam cất cánh.

PGS. TS. Bùi Hoài Sơn